VÌ SAO TRẦN ĐỨC THẢO CHỌN TRIẾT HỌC? DANH DỰ VÀ ĐẠO ĐỨC-SỐ PHẬN CỦA NHỮNG TRIẾT GIA THẾ KỶ 20

VÌ SAO TRẦN ĐỨC THẢO CHỌN TRIẾT HỌC

VÌ SAO TRẦN ĐỨC THẢO CHỌN TRIẾT HỌC? DANH DỰ VÀ ĐẠO ĐỨC-SỐ PHẬN CỦA NHỮNG TRIẾT GIA THẾ KỶ 20

(Câu hỏi rất hay mà tôi mãi tò mò: tài năng như Trần Đức Thảo học môn gì chả được, sao lại học triết? Triết gia có gì khác các nhà bác học của các bộ môn khác không? Một số suy nghĩ, kết hợp với tư liệu của tác giả Le Dan Thu Thuy và Lê Tâm)



Bác Thảo ôn lại thời niên thiếu, rồi phân tích cho thấy mọi sự đã như được cấy vào trong tiềm thức từ lúc còn non trẻ. Lúc ấy, sau khi đã đậu tú tài phần một, học sinh phải chọn một trong ba ban để chuẩn bị thi tú tài phần hai tức là chọn một trong ba lớp học cuối của bậc trung học: hoặc ban toán, hoặc ban khoa học tự nhiên, hoặc ban triết. Thảo đã chọn lớp triết, tức là dự tính sau này sẽ theo học ban văn chương ở bậc Đại học. Bởi đã có chút thành tích về luận văn, Thảo có dự tính sau này sẽ học chuyên về những khoa nhân văn mà mình ưa thích.

Nhớ lại lúc thi môn viết của tam cá nguyệt cuối niên học, giáo sư Ner, trả lại bài luận triết vừa chấm. Bài của Thảo đứng đầu như thường lệ, nhưng với điểm cao không ngờ: 16 trên 20! Thông thường Thảo chỉ đứng đầu với điểm 13 hay 14 điểm là cùng. Lần ấy, Thảo còn nhớ rõ, đề thi là bình giải một câu của Léon Bourgeois: “Danh dự cũng có thể là một nền tảng của đạo đức”.

Cả lớp, trừ Thảo, đều dài dòng tìm cách minh chứng câu đó với những bằng chứng, điển tích, nêu ra các hành động mưu tìm danh vọng qua các công trình vĩ đại, các chiến thắng vinh quang của những vĩ nhân thường thấy trong lịch sử thế giới. Tất cả như đã hành động vì danh dự để mang lại vinh quang cho xứ sở. Riêng chỉ có Thảo là đã bình bàn theo hướng khác hẳn.


Thảo chuẩn bị vào để bằng cách định nghĩa, phân tích kỹ khái niệm danh dự về mặt tâm lý và xã hội để chỉ ra rằng danh dự là một thuộc tính được ban tặng cho con người, từ bên ngoài, nghĩa là một giá trị do người đời khen tặng, chứ bản thân không thể trực tiếp đi tìm… mà lấy được. Danh dự chỉ đến với những con người sống đức hạnh, có lương tri, biết hoàn thành trọn vẹn công việc của mình, dù đấy là một công việc khiêm tốn; Như thế thì mọi người đều có thể có danh dự, chứ danh dự không phải là riêng của những kẻ có chức, có quyền trong xã hội. Nhưng do ngộ nhận mà danh dự đã bị coi là một khả năng kích thích con người có hành động đẹp đẽ, vĩ đại, theo xu hướng khoa trương, phù phiếm bề ngoài, để tạo ra “danh dự”, hay vinh dự cho chính mình. Bởi khi đó danh dự đã bị đồng hoá với danh vọng, vinh dự mà người Pháp gọi là ”les honneurs”. Thông thường, danh vọng có khả năng kích thích tâm lý, có thể làm cho con người u mê đến mức sa đoạ, y như là một thứ thuốc phiện! Người ta đam mê chạy theo danh vọng, tìm vinh dự, rồi tự biến mình thành kẻ khoe khoang, kiêu ngạo, hoang tưởng chạy theo những trò trang trí phù phiếm, hào nhoáng bề ngoài. Tranh đua nhau trên con đường danh vọng thường làm cho mình thành ích kỷ, thấp hèn: muốn dìm mọi người chung quanh xuống, để đề cao mình lên. Danh vọng đã đẻ ra một cấp trên kiêu ngạo, một cấp dưới nịnh nọt… Tệ nạn nịnh nọt cấp trên thường là phải bóp méo, xuyên tạc sự thật. Nó có thể cải trang một người bình thường thành kẻ kiêu căng tự đắc, một nhà chính trị thành một lãnh tụ độc tài, đam mê quyền lực, điên cuồng khao khát danh vọng, quan liêu cửa quyền đến mức hành động, nói năng như cha mẹ của dân, rồi muốn được tôn vinh làm cha dân tộc!

Về mặt tâm lý và xã hội, danh dự phải được hiểu một cách hết sức sáng suốt, hết sức thận trọng để tránh xa những mục tiêu của danh vọng. Danh dự cũng như hạnh phúc, không thể tìm kiếm, không thể mua chuộc nó một cách trực tiếp, bằng quyền lực hay tiền bạc, như người ta vẫn đi tìm kiếm danh vọng. Danh dự chỉ tới, một cách gián tiếp từ bên ngoài, với những ai không chủ tâm tìm kiếm nó, nhưng biết sống một cách xứng đáng, có lương tri, sống tử tế với mọi người, sống ngay thẳng, trong sạch ở mọi hoàn cảnh, biết làm tròn nhiệm vụ của mình, dù đó là của một công việc khiêm tốn nhất… sống như thế là sống thật sự có ích cho mọi người, là làm đẹp cho xã hội. Danh dự do đó quả thật là một nền tảng của đạo đức. Nhưng khốn nỗi, người đời vẫn thường nham lẫn danh dự với danh vọng. Do vậy nên danh dự, khi bị hiểu lầm, thì nó lá cái bả khiến con người chạy theo nó, tìm kiếm nó, mua bán nó… để rồi nó biến xã hội thành một môi trường giả dối, háo danh, phù du, ưa phô trương cái mẽ bề ngoài, che giấu cái trống rỗng, kém cỏi, xấu xa bên trong… Không thiếu gì xã hội, trong đó con người ngông cuồng khao khát danh vọng, một xã hội chỉ trọng vọng bề ngoài, chỉ trưng khoe thành tích giả tạo một cách bệnh hoạn. Một thí dụ điển hình về mặt tiêu cực của danh vọng là thói háo danh với bằng cấp. Bằng cấp chỉ là một hình thức chứng thực khả năng. Nhưng nay bằng cấp đã bị coi như là thứ áo mão gấm hoa, loè loẹt màu sắc, để phô trương. Nó đã tạo ra cái thói trưng diện bằng cấp trước cái tên của mình. Tự xưng mình là tiến sĩ này, thạc sĩ nọ, thủ trưởng cơ quan này, giám đốc công sở kia…! Danh dự của một người có học, có tri thức là biết sống không ồn ào, không khoa trương, biết chứng tỏ trình độ bằng kết quả của việc làm, khác hẳn với kẻ đã tự đồng hoá mình với danh dự bằng những hành động khoa trương chức tước, bằng cấp! Từ sự hiểu sai ý nghĩa của bằng cấp mà nó đã bêu xấu con người, làm hỏng nền giáo dục. Tình trạng đó có thể phá hoại xã hội. Khi danh dự bị nhầm lẫn với danh vọng, thì nó đã đưa tới sự gian lận trong thi cử, mua bán bằng cấp, chạy chọt chức tước cứ y như mua bán áo mão màu sắc lòe loẹt hào nhoáng để trưng diện. Bởi khi danh dự bị đồng hoá với danh vọng, thì nó là một cái bả tâm lý, làm hoen ố nhân phẩm, làm mất tự trọng, mất tỉnh táo nên không phân biệt được đầu là giá trị nội tại bền vững đích thực của luân thường đạo lý, đâu là hư danh xấu xa phù phiếm, dối trá khoe khoang bề ngoài…. Danh dự khi bị nhầm lẫn với danh vọng thì có thể đưa con người và xã hội đi rất xa về phía tiêu cực.

Sau khi nêu nhiều bằng chứng về thành tích được coi là danh dự của những người có cuộc sống khiêm tốn và đã bị đời coi thường, bỏ quên… Thảo nhắc lại rằng vì những thành tích vinh quang, đầy danh vọng của những kẻ có quyền lực, mà có người đã được hậu thế ca ngợi, có khi còn được tôn thờ như thánh nhân. Rồi Thảo đưa ra phản đề khá mạnh mẽ: những thành tích mưu cầu vinh quang danh vọng một cách đam mê, cố mưu tìm chiến thắng kiểu Pyrrhus, cố tạo ra những công trình vĩ dại như Kim Tự Tháp, như Vạn Lý Trưởng Thành… Và nhầm lẫn đấy là những thành tích của danh dự. Thực ra là những công trình vĩ đại ấy không thể là biểu tượng cho danh dự với đạo đức, đạo lý! Vì chiến thắng như thế là phung phí xương máu quân lính, vĩ đại như thế phung phí mồ hôi, nước mắt của dân chúng. Chúng không mang tính đạo đức và nhân bản. Vì vậy mà nhiều nhà lãnh đạo quyền lực lớn trong lịch sử chẳng thể trở thành một nhà đạo đức, càng không thể là thánh nhân! Thảo nêu ra những trường hợp đời thường, trong đó không hiếm những lãnh tụ chỉ vì cao ngạo, khát khao được trọng vọng như những Tần Thuỷ Hoàng, Napoléon… là những kẻ đã sẵn sàng phung phí máu xương quân lính, coi rẻ tính mạng, công sức lao động của nhân dân. Những nhà lãnh đạo ấy đã kích thích, thúc ép dân phải trở thành anh hùng, phải trở thành vĩ đại để tạo ra những thành tích vẻ vang, phi thường… cho họ. Vì thế mà hành động mưu tìm danh vọng thường là phản công lý, phản đạo lý. Rồi Thảo kết luận: người ta ưa ca ngợi, một cách nhầm lẫn, những thành tích vinh quang, vĩ đại… mà bỏ qua, hoặc bỏ quên khía cạnh vô nhân đạo, bất công của những hành động đã ép buộc nhân dân thấp cổ bé miệng phải gánh chịu biết bao hi sinh gian khổ để dựng lên nhũng thành tích ấy. Vì đấy, dù thế nào, thì cũng chỉ là những hành động tàn bạo, háo danh, thiếu công lý, thiếu đạo lý. Những thành tích vĩ đại ấy, những kỳ công vinh quang ấy, vì không công lý, không nhân đạo nên nó không thể là trở thành mẫu mực cho đạo đức! Một danh nhân, một ông vua, trong lịch sử, do những thành tích chính trị hay quân sự phi thường, thường được đám nịnh thần tâng bốc, ca ngợi đến mức sùng bái như một vĩ nhân, một thánh nhân, nhưng thật sự đấy chỉ là một lãnh chúa đầy tham vọng, đầy mưu trí nham hiểm, tàn nhẫn, độc ác! Người ta yêu thích danh vọng, tưởng như đó là danh dự. Sự đam mê danh vọng và quyền lực như thế là thiêu huỷ tính nhân bản trong những con ngườí muốn có sự nghiệp vĩ đại. Con người bình thường không chỉ sống vì danh vọng! Trong thực tế, thời có nhiều thành tích, công trình vĩ đại thường là những giai đoạn bi thảm đen tối, đẫm máu trong lịch sử nhân loại! Vì một lẽ giản dị là nó thiếu tính nhân bản, thiếu tính đạo lý. Nhân loại bình thường không sống để đì tìm danh dự trong danh vọng. Nhân loại bình thường không phải toàn là thánh nhân và anh hùng! Bởi con đường của những thánh nhân, của những anh hùng, với ý nghĩa cao cả của nó, là con đường tuẫn đạo, là con đường hi sinh có ý thức vì nghĩa vụ đối với con người. Khác với con đường của những kẻ u mê cuồng tín lao mình vào những hành động đầy máu và nước mắt, dù cho đấy là con đường tạo ra vinh quang, vĩ đại, nhưng đấy không phải là con đường của đạo đức! Trong lịch sứ, cái thời đầy vinh quang, đầy anh hùng của một dân tộc, thường là thời đau đớn đầy hi sinh, gian khổ, đầy máu và nước mắt, đầy hận thù và tội ác… rất phản đạo đức, phản con người… vì thời ấy bắt đám cùng dân phải trà giá bằng mồ hôi, nước mắt, bằng xương máu và tính mạng! Danh dự và đạo đức thực ra là những giá trị cộng sinh tự nhiên, chúng không phải là những ỉhuộc tính chỉ dành cho những vĩ nhân. Trong thực tế, danh dự là một giá trị kín đáo của con người nói chung, trong những hoàn cảnh sống bình thường, khiêm tốn trong xã hội, nên người ta không thấy, vì ít được ai để ý tới. Xưa nay, người đời chi nói tới, chỉ đề cao danh dự của những ông lớn có đầy danh vọng. Do vậy mà chúng ta dễ ngộ nhận, khi đọc tiểu sử của những vĩ nhân, mà không thấy được những tấm gương sảng về mặt đạo đức trong đám người thấp cổ bé miệng trong xã hội. Chính ở nơi những mẫu người khiêm tốn ấy, ta mới thấy rõ được rằng danh dự quả thật là nền tảng của đạo đức. Trong giá trị danh dự âm thầm, khiêm tốn đó, mới thấy người đời sống như thể đích thực là có đạo đức!

Khi chấm bài, bên lề phần kết luận, giáo sư Ner đã phê: “Có nhiều ý triết lý!” Bài của Thảo được đọc cho cả lớp nghe. Sự khen ngợi đó đã vĩnh viễn in sâu vào trí óc non nớt của Thảo. Người thày dạy triết còn nhấn mạnh thêm: ai cũng có thể cố học để trở thành bác sỹ, kỹ sư. Nhưng không phải ai cũng có thể học để trở thành một triết nhân. Đạt đỉnh cao trong triết học đòi hỏi phải có bộ óc minh triết, mẫn tuệ hơn người. Trong nhân loại, suốt trong chiều dài lịch sử, triết nhân chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ở Pháp kẻ theo học ban triết ở Đại học đều được nể trọng vì có bộ óc minh triết hơn người. Thảo nghe vậy, khoái lắm, nhớ mãi….

Sau này trong cuộc đời ông đã nhiều phen phải đưa ra quyết định liên quan đến đạo đức, danh dự; và ông đã thể hiện được khí tiết của nhà triết học hàng đầu. Trần Đức Thảo, khi cần cũng đã tỏ ra có khí phách của một người con chân chính của dân tộc Việt Nam anh hùng, người triết gia đó khi cần cũng biết cầm súng. Sau khi Hồ Chủ Tịch tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945, trong khi toàn dân Việt Nam đang say sưa với lời tuyên bố lịch sử đó, thì bọn thực dân Pháp đã chuẩn bị cho Leclerc (vị tướng nổi tiếng của nước Pháp đã chiếm lại thủ đô Paris năm 1945 lúc đó còn đang bị phát xít Đức chiếm đóng) cầm đầu một đội quan Pháp và lê dương hùng mạnh để chiếm lại Sài Gòn bằng thuỷ lục không quân… Bà con Việt Kiều ta ở Paris rất phẫn uất, và một sáng ngày tháng 9 năm 1945, Trần Đức Thảo đã cùng với vài chục anh em lao động việt kiều ở Paris mở một cuộc họp báo đê tỏ rõ sự phẫn uất này. Khi một nhà báo hỏi: nếu Leclerc đổ bộ Sài Gòn thì người dân Việt Nam sẽ đối xử như thế nào? Trần Đức Thảo trả lời ngay: “Chúng tôi sẽ nổ súng!” và ngay sau câu trả lời đó cảnh sát Paris đã bắt Trần Đức Thảo và mấy chục anh em lao động dẫn vào tù mặc dù quần chúng la ó phản đối. Thảo ở tù mấy tháng như một người phạm tội vào loại trọng tội lớn nhất của Pháp là tội đe doạ nền an ninh của nước Pháp. Sau vài tháng giam tù không xử xét nhưng cũng bị đối xử tệ bạc trong tù, nhờ ở ngoài Việt Kiều và quần chúng tốt Pháp biểu tình, la lối phản đối và cũng nhờ tin phái đoàn Hồ Chủ Tịch sắp qua Paris để thương thuyết nên Trần Đức Thảo và anh em lao động mới được ra tù…

Nhìn lại cuộc đời vinh quang và đắng cay muôn phần của ông (mà các bạn chắc đều đã biết) và của một số triết gia thế kỷ 20 khác, tôi hiểu được rằng thời đại này triết gia đúng nghĩa không chỉ đắm mình trong thư viện hay viết lách những chuyện giáo điều, mà còn phải hành động, và làm tấm gương cho thế hệ mình. Quay lại câu chuyện về Sartre – đối thủ của Thảo trong cuộc kiện cáo lịch sử, ông đã thể hiện điều đó hết mình trong quãng đời còn lại, chứ không như đánh giá quá nặng của triết gia Thảo là “mô-ve”!

Sartre tốt nghiệp Sư phạm Paris trước Thảo nhiều năm, sớm trở thành một trong những nhà triết gia hàng đầu của nước Pháp, cùng với người bạn gái chung chí hướng và rất nổi tiếng Simone de Beauvoir. Là những người đại diện ưu tú nhất cho chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp, nhưng cuộc đời họ không chỉ có lối sống phóng túng hay tiệc tùng hào nhoáng-cả cuộc đời họ, họ luôn công khai ủng hộ cho phe yếu, những kẻ bị áp bức. Từ thời Đức quốc xã chiếm đóng Pháp, họ đã đứng về hàng ngũ chống phát xít quyết liệt. Sau này họ cùng nhau lập ra tạp chí “Thời đại mới”. Họ chống lại hình thức thực dân kiểu mới ở Algeria, chống các hình thức tra tấn, chống bạo lực của kẻ mạnh-chính là chính phủ mới của Pháp. Sau nhiều lần bị đe dọa trực tiếp, bọn dân tộc chủ nghĩa vũ trang của Pháp đã 2 lần giật mìn nổ tung căn hộ của Sartre ở Paris, và 5 lần dùng vũ lực chiếm tòa soạn “Thời đại mới) (có thể liên tưởng đến sự kiện Charlie Hebdo mới đây…). Từ 1953 ông đã là thành viên của Hội đồng Hòa bình thế giới.

Sartre – cũng như rất nhiều tri thức khác – rất ủng hộ chính quyền cách mạng ở Cuba, ủng hộ hết mình Castro và Che Gevuara (và “tình cảm” này chỉ chấm dứt vào 1971 khi Cuba bỏ tù nhà thơ Padillia vì đả phá chế độ…). Ông và Simone tham gia điều trần về diệt chủng tại Việt Nam, Algeria, ủng hộ những người có ý thức hệ khác ở CCCP, chống lại việc Liên Xô đàn áp Hungary 1956, chống đối việc Liên Xô đưa quân vào Praha … Ông chống lại chiến tranh Việt Nam từ cả hai phía (Mỹ và Bắc Việt)! Lúc cuối đời, một trí thức tả khuynh như Sartre đã lên án những người cộng sản Việt Nam khi thấy làn sóng thuyền nhân. Trong năm cuối cùng của đời mình, ông đã cùng với các trí thức Pháp vào Điện Élysée gặp Tổng thống Giscard D’ Estaing yêu cầu giúp đỡ những người Việt tị nạn…


Là nhà triết học đồng thời là nhà văn lớn, vì tự do trong hành động và sáng tác, ông luôn từ chối những giải thưởng, để không bị bất cứ áp lực nào trong suy nghĩ và hành động. 1945 ông từ chối Huân chương Danh dự của Pháp, 1964 ông từ chối giải thưởng Nobel về văn học… Tuy luôn thẳng thừng chỉ trích chế độ Xô viết, nhưng một trong những lý do buộc ông từ chối giải Nobel là “khuynh hướng bài xích Liên Xô rõ rệt của Hội đồng xét giải”. Cả cuộc đời, ông luôn là người tả khuynh!

Kể cả khi đã nhiều tuổi, Sartre vẫn đi đầu trong phong trào biểu tình của sinh viên Paris (thực ra ông là linh hồn của phong trào này!). Một lần ông bị bắt, toàn giới sinh viên nổi giận, De Gaulle đã ra lệnh thả ngay, vì “ở nước Pháp này những người như Voltaire không bao giờ được bắt!”. Vào năm 1968 khi có cuộc cách mạng nổ ra tại Pháp, sinh viên chiếm lĩnh đại học Sorbonne, người duy nhất được sinh viên mời vào trường, đó là Sartre!

So sánh cuộc đời của hai triết gia kiệt xuất đều là cựu sinh viên từ trường Sư phạm Paris này, ta có thể thấy vài điểm rất khác biệt: Sartre nhiều lần thay đổi quan điểm chính trị, triết lý còn Trần Đức Thảo thì không; Thảo chết trong cô đơn hoàn toàn, còn đám tang Sartre có 50000 người dân Paris đã tham gia. Họ đều xứng đáng là những triết gia kiệt xuất của thế kỷ 20, không chỉ vì tài năng vượt trội của mình, mà đầu tiên, vì họ đã là những người dũng cảm!

Bài khác để tham khảo: http://www.viet-studies.info/TDTh…/Feron_TranDucThaoLaAi.htm

(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/819026858159253)

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP – 1946

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP - 1946

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP – 1946

(Dành cho người yêu lịch sử)

Sau loạt bài liên quan đến chuyến đi của cụ Hồ sang Paris năm 1946 những người yêu lịch sử như anh Lê Viết Thái, Sơn Kiều Mai đã chia sẻ thêm nhiều tư liệu quý giá của những tháng năm đó, qua đó phần nào cho ta thấy được tâm tư của những con người trí thức xa quê hương nhưng luôn hướng về cố quốc.



Ví dụ văn bản sau, là Tuyên bố của các trí thức tại Pháp được ký bởi nhiều vị đã và đang sống và học tập tại Pháp (trong ảnh là chữ ký của hai cựu sinh viên trường Cầu Đường Paris là ông Lê Viết Hường và ông Nguyễn Hy Hiền. Ông Hiền quê ở Thừa Thiên-Huế, về nước cùng nhiều tri thức khác trên chiếc tàu chuyến thứ hai là “Felix Roussel” cuối năm 1946 rồi ra nhập chiến khu Rừng Sác, ông Hường về nước cuối năm 1949 về Bangkok rồi theo đường bộ đi ra nhập chiến khu Việt Bắc).

“TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT CƯ TRÚ TẠI PHÁP

tuyên bố đoàn kết nhất trí cao với các Trí thức Việt Nam những người đã ký, vào ngày 2 tháng 4 năm 1946, tại Hà Nội, Bản đề nghị với nội dung như sau:

Các trí thức Việt Nam, cho rằng nước Cộng hòa Việt Nam là một nhà nước tự do mà lãnh thổ không thể bị xâm phạm; và rằng, về mặt địa lý, lịch sử, dân tộc, kinh tế, Nam Kỳ luôn là một phần không thể tách rời của Việt Nam.
Xét thấy rằng Nhà nước Việt Nam tự do, với tư cách là một nhà nước có chủ quyền, không thể tuân theo chủ quyền của một quốc gia khác; Nhà nước Việt Nam tự do chỉ có thể phụ thuộc vào chính ý chí tự do của bản thân.
Xét thấy rằng các sự việc đáng tiếc gây ra bởi một số yếu tố Pháp mang tính thực dân, thể hiện ý muốn thù địch đối với việc Việt Nam thực thi các quyền chủ quyền, và nhất là với việc áp dụng Thỏa thuận Đình chiến, trên phần Lãnh thổ Nam Kỳ.
Xét thấy rằng các cuộc đàm phán chính thức giữa hai Chính phủ Pháp và Việt Nam, vì lợi ích chung của các dân tộc Pháp và Việt Nam, đã không đạt được kết quả như nhà nước thực dân này hy vọng:

Vì những lý do trên:
Phản kháng mạnh mẽ, chống lại mọi nỗ lực cố tình làm suy yếu sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và nhất là chống lại sự tách rời của Nam Kỳ;
Phản đối mạnh mẽ, chống lại mọi nỗ lực cố tình tạo ra, hoặc khôi phục, các thực thể có thể gây hạn chế chủ quyền của Nhà nước Việt Nam;
Phản đối việc tiếp tục các hoạt động quân sự ở Nam Kỳ, của quân đội Pháp, nhằm chống lại quân đội Việt Nam, vi phạm Thỏa thuận đình chiến;

Phản đối bất kỳ sự chiếm đóng nào bởi các đơn vị hành chính công trên lãnh thổ Việt Nam, mà không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam; yêu cầu các cuộc đàm phán được quy định trong Công ước tháng 3 năm 1946 phải được tiến hành ngay lập tức tại Paris.

Paris, ngày 11 tháng 5 năm 1946.”
&&&&&

Hay một số báo “Cứu quốc” ngày 24/10/1946 đã có những bài rất hay về Hồ Chủ tịch và những trí thức mới về nước cùng cụ từ bên Pháp:

“LỜI TUYÊN BỐ CỦA Hồ Chủ tịch

Sau khi về dinh Chủ tịch chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, Hồ Chủ tịch, ngoài việc tiếp các đoàn thể, các đại biểu báo giới, chính giới, đã phát biểu lời tuyên bố, một lần nữa, tỏ rõ sự săn sóc và ý nghĨ của Người đối với hết thẩy những vấn đề quan hệ đến nước Việt Nam.

Bằng một giọng gọn gàng mà đầy đủ, lời tuyên bố trước hết vạch rõ chính sách ngoại giao và nội trị của Chính phủ Việt Nam.

Về ngoại giao, nước Việt Nam đã quyết định:
– Thân thiện với các nước Mỹ, Trung Hoa, Anh v.v.

– Hợp tác thành thực với người Pháp. Nhưng sự hợp tác phải xây dựng trên căn bản tự do và bình đẳng. Câu: “Việt Nam nhất định độc lập. Trung Nam Bắc nhất định thống nhất” trong lời tuyên bố đã chứng tỏ sự tha thiết và sự quyết tâm của Chủ tịch và của dân tộc Việt Nam đối với nền thống nhất và độc lập của nước Việt Nam.

Về nội trị Chính phủ Việt Nam vẫn cố theo đuổi chính sách tập trung tất thẩy lực lượng của các tầng lớp dân chúng. Các đảng phái, các tôn giáo vào một khối đoàn kết của toàn dân, để:
– Dành, giữ tự do và độc lập
– Kiến thiết nước Việt Nam mới

Đó là những nét lớn trong chính sách của Chính phủ Việt Nam do Hồ Chủ tịch vạch ra trong lời tuyên bố.


Bên cạnh những nét lớn ấy và bao trùm ấy những nét ấy là tấm lòng của Chủ tịch. Lòng tha thiết của Chủ tịch chia sẻ và chú trọng đến cả mọi người. Về phương diện này, mỗi câu mỗi chữ là chứa nặng một cảm tình chí thiết. Những cảm tình ấy hướng về Nam, về người Việt ở miền Nam nhiều hơn hết, vì đồng bào ở miền Nam đau khổ hơn hết, hi sinh nhiều hơn hết, chiến đấu gay go hơn hết và do đó rất xứng đáng sự săn sóc của Người và của quốc dân.

Tóm lại lời tuyên bố của Hồ Chủ tịch cho ta thấy chính sách của nước Việt Nam đã rạng rỡ ra bởi cái lý trí sáng suốt và sắt đá của Người. Nhưng coi chính sách của lý trí ấy, đã được dịu đi và thắm lại bởi cảm tình dào dạt của Người.
Chính vì vậy, lời tuyên bố vừa có cái giọng nghiêm nghị, mạnh mẽ của vị Thủ lĩnh, vừa có cái giọng đầm ấm mặn mà của một người Cha.
Trí của Chủ tịch là ở đây, lòng của Chủ tịch cũng ở đây, và sức mạnh của Chủ tịch cũng ở đây…”.
&&&&&

Một bài phỏng vấn có lẽ là đầu tiên của 2 đại diện trí thức từ Pháp về:

ĐI THĂM HAI KỸ SƯ MỚI Ở PHÁP VỀ

Kiều bào ở Pháp có 50 người học về các ngành chuyên môn.
Điều cần thiết là xứ mình cần có kỹ nghệ thì có thể đào tạo được ngay nhân tài chuyên môn (Lời ông Lễ)
Tôi đã gặp hai ông Phạm Quang Lễ – kỹ sư cầu cống và Võ Đình Quỳnh – kỹ sư khoáng chất, mới ở Pháp về cùng Hồ Chủ tịch, tại phòng Nam Bộ, đường Gia Định.
Ông Lễ đã đứng tuổi, ông qua Pháp đã 11 năm. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư cầu cống, ông theo đuổi nghề trong ít lần, rồi tìm một ngành chuyên môn khác để học thêm.
Ông Quỳnh hãy còn trẻ lắm. Ông sang Pháp từ năm 1939. Hồi đó ông mới 20 tuổi. Ông tốt nghiệp kỹ sư tại 1 trường Khoáng chất lớn nhất ở Ba Lê.
Ngoài ông Quỳnh còn có ba nhà chuyên môn về mỏ, là ba ông Trần Minh, Hoàng Kinh và Bài. Hai ông Minh và Kinh đã đỗ bằng kỹ sư rồi, hiện đang làm tạp sự trong mỏ. Ông Bái còn đang học.

Cả ba ông đó đều học ở trường Xanh-tê-chiên (Saint Etienne), một trường khoáng chất lớn ngang bằng với trường Khoáng chất Ba-Lê.

Ông Quỳnh thấy ông về nước lúc này là rất hợp thời. Ông nói:
– Chúng tôi về đây cần phải thực hành ngay, và phải hoạt động thật gấp.

Thế nhưng ông đã dè dạt quá trong khi ông phát biểu ý kiến về những lợi ích mà các nhà chuyên môn mà các nhà chuyên môn ở ngoại quốc đã về hay sắp về nước có thể giúp cho Tổ quốc đang lúc hiếm người tài giỏi
– Chúng tôi, ông nói, chỉ muốn chờ cái kết quả nó sẽ nói nhiều hơn là những lời chúng tôi nói bây giờ.

Tuy nhiên, trong câu chuyện thân mật, ông Quỳnh cũng đã cho tôi biết đôi điều:
– Nếu có sự chỉnh đốn về kỹ nghệ, có thể dùng ngay được các nhà chuyên môn khoáng chất ở nước ngoài về.

Nhưng lo nhất về sự thiếu máy móc, ở nước ta có hai miền nhiều mỏ là miền Bắc và miền Trung. Phải lo làm sao cho có bao nhiêu kỹ sư khoáng chất phải được dùng hết vào việc mỏ ở hai miền đó.

Kỹ sư Phạm Quang Lễ cho tôi biết gần hết những điều tôi muốn đem ra đây làm chút quà của mấy đồng bào ta vừa mới ở Pháp mang về.
Kiều bào ta ở Pháp có tới 50 người học về các ngành chuyên môn. Hiện nay phần đông ở Ba lê, còn ở Tu lu (Toulouse) và Boóc đô (Bordeaux) rải rác có đôi người. Kỹ sư cầu cống cũng chiếm một số nhiều trong những ngành người mình theo học: điện học, hóa học, khoa học, khoáng chất, luật học, y học. Những người chuyên môn cần thiết cho nước nhà trong lúc cần phải kiến thiết thật nhiều này sở dĩ không có mấy là vì ngày trước, được đi du học, người mình có nghĩ đến cái mục đích học rồi về giúp nước đâu. Học là vì muốn có danh vọng. Học là muốn có một nghề nó nuôi sống mình. Thế thôi. Nên ai thích gì học nấy. Cái mà mình cho là có danh vọng hơn cả là nghề thuốc và luật. Các ông y khoa bác sĩ và luật khoa tiến sĩ ta có nhiều quá, nếu đem so với các ngành chuyên khoa khác. Nhiều không phải là thừa. Nhưng nếu có được một số kỹ sư hóa học, kỹ sư khoáng chất tương đương với số bác sĩ, trạng sư, thật là sự may mắn lớn cho nước nhà trong giai đoạn lịch sử này.

Ông Lễ cho tôi biết về óc thông minh của đồng bào ta theo học ở ngoại quốc:
– Mình không thua người ta về một phương diện nào. Điều cần là ở nước mình có kỹ nghệ trong xứ thế nào cũng đào tạo được nhiều về chuyên môn. Thí dụ, nước mình có trường thuốc, số người tốt nghiệp về ngành đó rất nhiều.

Rồi với 1 giọng đầy tin tưởng, kỹ sư Lễ nói đến sự hoạt động của các nhà chuyên môn ta khi nghĩ đến việc về quê hương để giúp nước.
– Chúng tôi lo nghiên cứu chương trình để về nước hợp tác với anh em kỹ sư ở đây, chúng tôi cũng đã nghĩ đến mua máy móc. Nhưng có tiền để mua cũng đã khó khăn lắm. Lại còn điều khó nữa là phải mua ở các nước khác, chứ chính nước Pháp cũng thiếu máy lắm.

“Có người chuyên môn để lo mở mang kỹ nghệ là việc gấp. Cần lắm, ta có thể mở trường đào tạo cấp tốc một số người. Thiếu máy móc cho họ học thực hành, có thể dạy cho họ lý thuyết, rồi khi có máy cho họ học qua máy cũng mau lắm.
Nói thế là đã giải quyết tạm bợ thôi. Phải lo gửi ngay người đi ngoại quốc học.

Sang Pháp các trường chuyên môn không đủ cho mình học. Phải qua Mỹ, qua Anh, qua Bỉ, qua Thụy Sĩ. Học về mỏ, tốt nhất là qua Mỹ và Thụy Sĩ. Số người gửi đi, phải cho theo chuyên môn cấp tốc về mỏ, hóa học, đúc, nấu quặng, kỹ nghệ nặng.

Trong việc gửi người đi nước ngoài, có khó là về giao thông. Còn tiền bạc, không hết nhiều lắm. Ở miền mỏ Lie-giơ (Liêge) mỗi tháng chừng một ngàn quan là theo thời giá đắt đỏ bây giờ. Qua Liê-giơ, ta có hy vọng học được nhiều. Là vì người Thụy Sĩ tốt lắm. Họ có thể hết sức dễ dàng trong việc thu nhận sinh viên của ta gửi sang, miễn là sinh viên ta phải sõi tiếng Anh và tiếng Đức. Nhờ có Anh Đức Hội, mấy giáo sư người Thụy Sĩ rất có cảm tình với ta. Và người Thụy Sĩ họ đã biết nhiều đến nước Việt Nam ta rồi, họ mến ta lắm”.

Cuối cùng, ông Lễ cho tôi biết thêm rằng ông Hoàng Minh Giám và hai ông Mai, Danh đã làm việc ráo riết để đưa một số sinh viên và nhà chuyên môn ta về nước. Có hi vọng cuối tháng này hay trong tháng tới kiều bào đó đã về tới nhà.

Rồi, cuối cùng, ông Lễ kết luận:
– Lúc về tới nước nhà, tôi có cảm tưởng rằng người mình khổ sở trên hết các dân tộc khác. Trái lại, chúng ta có thua họ về phương diện nào đâu. Tài, chúng ta có thừa. Nước ta lại rất nhiều nguyên liệu. Cho nên muốn giữ vững độc lập, chúng ta phải có kỹ nghệ. Và phải kỹ nghệ hóa nữa”.

Qua đó ta thấy được viễn kiến của ông Lễ (Trần Đại Nghĩa) về việc giáo dục các ngành nghề cấp thiết cho thanh niên Việt Nam trong gia đoạn mới. Không có gì lạ, rằng chính ông sau này là Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội.


Tham khảo thêm: http://m.cand.com.vn/…/Hai-anh-em-ruot-Vo-Dinh-Quynh—Vo…/…

(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2165751710153421)

ÔNG LIÊN XÔ BÀ TRUNG QUỐC -1969

bien gioi lien xo trung quoc

ÔNG LIÊN XÔ BÀ TRUNG QUỐC -1969

(Trận chiến lớn nhất giữa Liên Xô và Trung Quốc đã ảnh hưởng thế nào đến chiến tranh Việt-Trung năm 1979?)

Lời giới thiệu: “Ông Liên Xô, bà Trung Quốc, ông đi guốc, bà đi giày, ông nhảy dây, bà đá bóng, ông đi tắm, bà cài then…” là một câu đồng dao của trẻ con miền Bắc những năm 60-70 của thế kỷ trước. Mà như lịch sử cho thấy những câu đồng dao của mọi dân tộc dù có vẻ ngô nghê nhưng đều ẩn chứa thông tin về những thời kỳ lịch sử đầy biến động, những sự kiện nội địa và quốc tế vô cùng đình đám. Và dù đã thuộc nằm lòng câu hát này, chỉ khi đã lớn lên, đã đi khắp bốn phương trời chúng ta mới bắt đầu hiểu láng máng về nó, về một bức tranh quan hệ vô cùng phức tạp giữa hai “người anh lớn” của chúng ta, giữa hai “đảng cộng sản anh em”, và hơn hết giữa hai đại cường quốc mà chúng ta cứ đơn giản nghĩ rằng họ đang cùng một trục, với kim chỉ nam là học thuyết Mác-Lê. Chúng ta có học được gì không ư, có vẻ như học chả được nhiều lắm đâu, nhất là với thân phận “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc”.


Mở đầu 1: QUAN HỆ XÔ-TRUNG:
Liên Xô chiến thắng trong chiến tranh thế giới 2, từ đó tạo tiền đề cho việc sinh ra nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trong vai trò người chiến thắng họ có thêm được một đồng minh khá chắc chắn (cùng phe XHCN cơ mà) lại là láng giềng, nên phải nói là thời gian đầu Liên Xô giúp đỡ Trung Quốc khá nhiều, cũng đúng thôi, Liên Xô còn giúp nhiều nước XHCN khác nữa là, toàn “đồng chí” cơ mà. Khi đó họ đang vượt xa Trung Quốc về khoa học kỹ thuật, thể thao văn hóa, uy tín quốc tế và tiềm năng quân sự thì khỏi nói rồi. Thế nên thời gian đó rất nhiều cán bộ Trung Quốc được đào tạo ở Liên Xô, vùng phía bắc ráp gianh thi Liên Xô giúp cho biến Harbin (Cáp Nhĩ Tân) thành trung tâm công nghiệp nặng, rồi còn có thể kể thêm ngành khai khoáng, thậm chí một phần nào đó của công nghiệp quốc phòng. Văn học Nga và Xô Viết và âm nhạc Nga được phổ biến rộng rãi (lan tỏa sang cả Bắc Việt Nam). Say sưa với thắng lợi, có vẻ như Liên Xô bỏ qua mất một điều: không hiểu những cái đầu của lãnh tụ Trung Quốc đang nghĩ gì…

Chiến tranh giữa hai miền của Triều Tiên nổ ra với ý đồ của Liên Xô mượn tay Bắc Triều Tiên để thống nhất bán đảo này, quân đội phương bắc đang thắng thế thì Mỹ và Liên Hiệp Quốc đưa quân vào can thiệp, thế cờ thay đổi hoàn toàn. Không thể để cho một quốc gia “tư bản” hình thành ngay bên nách mình Trung Quốc đã tung quân trợ giúp Bắc Triều Tiên. Thế cờ lai một lần nữa đảo ngược, và cuối cùng hòa ước phân chia ranh giới hai miền quay về vĩ tuyến 38 như trước kia. Không phải để giúp Liên Xô, mà ngược lại từ nay Bắc Triều Tiên không chỉ phụ thuộc vào sự trợ giúp của Liên Xô mà còn bị ảnh hưởng rất lớn của Trung Quốc nữa! “Tên sen đầm quốc tế” là USA phải thấy TQ như một lực lượng đáng gờm, chứ không còn là nước đàn em theo đuôi của LX nữa! Cách suy nghĩ, cách hành xử của TQ khi can thiệp vào cuộc nội chiến của nước lân bang mọi người có thấy giống ở đâu không ạ…? Chuyện đó chúng ta sẽ bỏ qua!

Chưa kịp quen hết với những thói quay quắt của Trung Quốc thì những thay đổi về nhân sự và chính trị của LX bị TQ đả phá tơi bời. Việc Nikita Khrushev tại đại hội đảng LX 1956 đả phá mạnh mẽ tệ sùng bái cá nhân (lãnh tụ Stalin) bị Mao coi là “phản bội”, lãnh đạo LX bị coi là “bè lũ xét lại” (từ này du nhập rất nhanh vào Việt Nam đấy). Ngược lại LX đả phá “bọn Maoist” với biết bao trò man rợ, ngô nghê kiểu “cách mạng văn hóa”, học Mao tuyển, “đại nhảy vọt”, diệt chim sẻ, cả nước làm luyện kim… TQ rút tất cả các sinh viên, chuyên gia của mình đang ở LX về nước, cao giọng đòi hỏi những thứ cực kỳ ngang ngược Chẳng hạn đòi sáp nhập Mông Cổ! Hay đòi Liên Xô phải trao ra bí mật chế tạo tàu ngầm hạt nhân cho TQ (xin nhớ công nghệ chế tạo bom nguyên tử là quà tặng của Stalin cho Mao đấy…)!? Hãy nhớ lại chính phủ Bắc Việt Nam đã phải vất vả thế nào để chiều lòng được cả “hai ông anh” mà nhất là ông anh láng giềng Trung cộng, trong khi “hai ông anh” giúp ta đầu tiên là chống Pháp, sau đó gây dựng “nền kinh tế mới XHCN” và rồi chống Mỹ và chế độ Việt Nam cộng hòa. TQ lúc nào cũng leo lẻo chê bai những ai chúng coi là không quán triệt đường lối Marx-Lênin-Mao nhưng khi năm 1968 Tiệp Khắc quyết tâm cải cách chính trị, từ bỏ con đường cộng sản (“mùa xuân Praha”) và đến 8/1968 Liên Xô chớp nhoáng tiến hành chiến dịch “Dunai” cùng các thành viên khối Varsava thực chất là xâm chiếm và đè bẹp chính quyền Dubcek thì TQ lại lên tiếng ủng hộ Dubcek (hoàn toàn không phải vì TQ “tiến bộ” hay “dân chủ” gì, đơn giản là “thích thì phê phán thôi” – TQ phê phán LX còn ác liệt hơn tất cả các nước phương tây nữa! TQ gọi đấy là “cuộc xâm lược man rợ” và “sự phản bội trắng trợn chủ nghĩa Mác-Lê”! Trong khi LX biện bạch và các nước XHCN khác đồng thanh: ”Các nước trong khối XHCN thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã tới để giúp đỡ nước Tiệp Khắc anh em”… Và LX tuyên truyền rộng rãi rằng “trước 8/1968 TQ chỉ từ chối cùng giúp đỡ nhân dân Việt Nam anh em, còn sau sự kiện “mùa xuân Praha” TQ đã hoàn toàn chuyển sang phe phản cách mạng”. Tức là đối với LX thì TQ đã “phản bội” và giờ đứng cùng một bè đảng với Mỹ, Tây Đức, Anh… là các nước “phản động”. Tuy nhiên sau đó vài tuần truyền thông của Liên Xô cố tình không đưa tin gì về phản ứng của lãnh đạo và nhân dân TQ về “mùa xuân Praha” – có lẽ Đảng CS LX không dám làm quá ầm ĩ vì “xấu chàng hổ ai” – nếu không khối XHCN sẽ lung lay mạnh lắm. Lạ hơn nữa cái logic của Mao Trạch Đông khi kết tội Brezhnev thông đồng với Washington để đàn áp dân chủ ở Tiêp Khắc…


Mở đầu 2: ĐẢO TRÂN BẢO (DAMANSKY) VÀ TRANH CHẤP LÃNH THỔ LX-TQ
Sa hoàng đã để lại một di sản khổng lồ với lãnh thổ bằng 1/6 diện tích đất trên quả địa cầu. Sau thế chiến II thậm chí LX không mất đất mà còn “ăn ra” với nửa đảo Sakhalin và mấy quần đảo lấy được của Nhật. Riêng với TQ đó là 7500 km chiều dài biên giới, mà phải nói rằng tuy rất tham lam và có số dân, số quân vượt trội nhưng quân đội Xô Viết quá “đáng sợ” thế nên LX chả mất cột cây số nào vào tay láng giềng phía nam. Trừ đảo Damansky…

Đó là một bãi bồi giữa con sông Ussury chia cắt lãnh thổ của LX và TQ ở vùng Primorye-Viễn Đông, Nga.Theo thông lệ quốc tế thì biên giới giữa hai nước phải là đường giữa sông, nhưng từ thời Sa hoàng Nga tuy bị thua Nhật tan tác ở vùng này, nhưng lại “át vía” được TQ thế là Sa hoàng cứ đòi đường biên giới là mép bờ nước về phía TQ cơ! Đành phải chịu đấy, TQ yếu mà! Đảo này trước kia nó là một phần của bờ sông Trung Quốc, bị dòng nước xói mòn nên thành ra dải cát giữa sông, thực ra nó bé tí (74 ha) và khi nào nước sông dâng cao thì chìm nghỉm, tuy thế Nga “đành hanh” bảo là của Nga! Phải chịu chứ biết làm sao chứ thực chất đây đúng là “mảnh đất chim ỉa” chả có lợi ích gì, đúng hơn so với việc sau này quan chức Việt Nam gọi HS-TS nhiều!

Năm 1949 khi Mao chủ tịch lần đầu tiên tới Matxcơva thăm nước LX – “người anh cả vĩ đại” và tất nhiên đề nghị Stalin giúp đỡ trong công cuộc xây dựng CNXH ở TQ. Khi nhận được lời hứa từ Iosiv Stalin Mao nhẹ nhàng hỏi thêm:

-vậy đến khi nào LX sẽ trả lại những lãnh thổ mà từ xa xưa vốn thuộc về Trung Quốc?

-những lãnh thổ nào nữa? Stalin ngán ngẩm hỏi sau một thời gian im lặng…

Mao đành giải thích đầu đuôi, từ thời Sa hoàng Alexey đệ nhị… Stalin nói một câu bất hủ mà Mao phải nuốt giận ra về, nhưng có lẽ chẳng bao giờ quên được:

-Bây giờ chúng tôi có những vị Sa hoàng mới rồi. Chúng ta là những người cộng sản, mọi thứ đều phải là của chung…

Đến khi 2 nước trở thành “XHCN anh em” rồi thì TQ mới cao giọng đòi đất, thực ra có lẽ để “nắn gân” “người anh em” LX hơn, chứ Mao Chủ tịch nói ngay tại đại hội ĐCS LX là “sẵn sàng hy sinh 300 triệu người TQ để làm cách mạng thế giới” còn riêng đối với LX thì “đất của tổ tiên người TQ trải dài từ Sibery cho tới Kamchatka” – tức là trong việc thực hiện mộng bá quyền của mình LX sẽ là vật chướng ngại lớn nhất!
LX đặt trạm biên phòng gần đấy, và vào mùa đông sông đóng băng thì bên trên đảo có độ một trung đội lính biên phòng chiếm giữ. Trong mọi cuộc đàm phán song phương cái tên “Damansky” hay tên TQ “Trân Bảo đảo” luôn được nhắc tới, TQ đòi còn LX chây ì! Càng ngày TQ càng gây sức ép, phía LX đếm được tới hơn 5000 vụ khiêu khích và vi phạm đường biên giới từ phía TQ chỉ riêng trong một năm (giống Lạng Sơn chưa?). Đầu tiên là nông dân (có thể là binh lính TQ cải trang) giả vờ lạc đường sang địa phận LX, thế rồi cãi lý om sòm rằng họ vẫn đang trên đất TQ đây chứ đâu, rồi sau này dân quân TQ và Hồng vệ binh liên tục đứng giương biểu ngữ, rủa xả đe dọa lính biên phòng LX, thậm chí có những lúc quân hai bên đánh nhau tay không như trong phim, nhưng lệnh từ cấp cao nhất tại điện Kremlin ban xuống: “đấu tranh hòa bình, cấm dùng vũ khí!”. Tình thế căng thẳng như vậy kéo dài nhiều năm, phía TQ toan tính nhiều phương án tấn công, phía LX có lẽ lâu ngày ảo tưởng về “người anh em” phương nam này chỉ dám nói chứ chả dám làm… Cũng phải nói thêm vì sao phía LX có vẻ như chủ quan: năm 1964 Khrushev muốn xoa dịu Mao nên hứa trả không chỉ Damansky mà còn nhiều đảo khác với tổng diện tích đến 20000 km2 cho TQ, nhưng Mao từ chối nhận quà tặng từ “kẻ phản bội” (Khrushev coi Stalin là phản bội, còn Mao coi Khrushev là phản bội). Vậy lí do gì mà từ chối món quà hậu hĩnh 20000 km2 rồi lại phải tấn công để đánh chiếm 0,73 k2 đảo không người, mà không sớm thì muộn nếu đấu tranh ngoại giao lâu lắm cũng chỉ vài năm rồi TQ sẽ đòi được mà không phải đổ máu? Chỉ có thể giải thích rằng: Mao từ chối “quà tặng” (mà cái ông Khrushev này cũng hay tặng đất vung vinh lắm cơn!) chỉ vì muốn tỏ ra đối với “tay sen đầm quốc tế” Mỹ là mình chả lệ thuộc vào CCCP, chả coi LX ra gì và sắn sang tấn công thậm chí cả LX bằng quân sự! Bức tranh quan hệ quốc tế thực sự rối ren: LX và TQ đều đang là đối thủ với Mỹ tuy không tham gia trực tiếp vào chiến trường Việt Nam, Nixon đang ôm lại vũng lầy Việt Nam khá là bế tắc, còn cả Mao và Brezhnev đều liên tục phát tín hiệu muốn đón tiếp, gặp gỡ tổng thống Mỹ ngay tại nước mình! Thế cờ đó được “cánh tay phải” của Nixon là ngoại trưởng Kissinger tận dụng tối đa… Thay cho Khrushev, TBT Brezhnev dù sao cũng kịp cẩn thận tăng cường sức mạnh quân sự của quân đội LX tại Viễn Đông lên mức tối đa!


CHIẾN SỰ:
Việc triển khai chiến sự với LX được tính toán kỹ lưỡng, cả thời điểm, số lượng quân tham gia – có nguồn tin bảo rằng chính phủ LX được nguyên soái Lâm Bưu báo từ trước, có lẽ chỉ không biết được chính xác là bao giờ thôi.
Cuối tháng 2/1969 ở vùng Primorye mới tiến hành tập trận, kết thúc xong các đơn vị và khí tài chính được kéo sâu vào cách biên giới ít nhất cũng 50 km. Mọi người đều mệt mỏi, tinh thần thả lỏng sau mấy ngày vất vả… Đêm mồng 1, rạng sáng mồng 2 tháng 3 năm 1969 một toán quân TQ trang bị súng ống đầy đủ âm thầm kéo tới hòn đảo này trên mặt băng (thời gian này mùa đông, nhiệt độ thường 20-30 độ âm, dòng sông Ussuri luôn đóng băng). Khi bộ đội biên phòng LX phát hiện ra, cũng tưởng như mọi lần thôi, họ tiến ra để “đấu lý” và thế là theo hiệu lệnh của tên chỉ huy lính TQ xả súng tiêu diệt, gần như cả toán quân 32 người của chỉ huy – thượng úy Ivan Strelnikov bị xóa sổ hoàn toàn. Không những thế sau đó thân thể của họ còn bị băm vằm, móc mắt… vô cùng dã man. Hạ sỹ Akulov bị thương và bắt làm tù binh, sau bị tra tấn dã man cho đến chết (vết tích còn rõ khi bên TQ trao trả lại xác cho phía LX). Duy nhất một binh nhì Genadi Serebrov thoát thân được. Toán quân thứ hai của Rabovich bị rơi vào vòng vây của địch. Nhưng lúc đó tốp quân của hạ sĩ Yuri Babansky bắt đầu tiến từ đồn biên phòng ra, và đã biết về tổn thất hoàn toàn của hai toán quân đi trước. Đáng nhẽ có thể quay lại đồn cố thủ để chờ viện binh nơi khác đến nhưng quả thực họ vô cùng căm thù vì đòn đánh ác độc và bất ngờ của quân TQ, nên dù rất ít người nhưng họ đã chuyển thành thế tấn công, trận chiến đẫm máu kéo dài khoảng 5 giờ đồng hồ, số lượng người chết các bên là: LX mất 31 lính biên phòng, bị thương 14 – phía TQ kéo về 248 xác chết (sau này truyền thông TQ thông báo là chết có 3 người). Quân TQ bị đẩy lùi (Yuri Babansky là người Xô Viết đầu tiên sau thế chiến lần thứ II được nhận danh hiệu “anh hùng Liên Xô” trong chiến đấu), nhưng họ ém sát biên giới trung đoàn 24 (một trung đoàn của TQ có tới 5000 lính). Mọi việc ngày 2/3 được báo cáo lên Alexey Kosygin (Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng) – vốn khá ôn hòa, chậm chạp. Phía LX cử sư đoàn cơ động 135 tới gần đảo Damansky với một vũ khí mà tại thời điểm đó còn đang coi là tuyệt mật…

Chiến sự tạm dừng, nhưng cả thế giới ngỡ ngàng. Một nước có hơn ¼ dân số thế giới tấn công vũ trang một nước láng giềng có lãnh thổ bằng 1/6 thế giới – mà họ đều là “anh em XHCN” và đều nắm giữ vũ khí hạt nhân – phải nói là ngay tổng thống Nixon cũng bị quá bất ngờ. TQ già mồm thì gọi đấy là “chiến dịch phòng vệ hợp pháp” bởi LX khiêu khích, còn giới lãnh đạo LX thì cố gắng che chắn thông tin, chỉ coi đây là một xung đột không đáng có ở biên giới giữa vài tay lính biên phòng của cả đôi bên. Matxcơva vẫn chỉ đạo vùng quê hẻo lánh Primorye ấy phải “không mắc mưu khiêu khích của địch, tránh xung đột vũ trang trên diện rộng” và hàng ngày đưa ra rất nhiều chỉ đạo mâu thuẫn kỳ lạ, chứng tỏ ngay ở thủ đô LX các lãnh đạo cũng chưa sẵn sàng và chưa thống nhất được cách ứng phó với TQ.

Mỹ cũng rất ngỡ ngàng, Kissinger có lẽ là người hiểu rõ nhất nguy cơ tiềm ẩn: LX đang hết sức nhún mình tránh chiến tranh với TQ, nhưng khi có rất nhiều ý kiến khác nhau của Bộ chính trị về độ tàn ác, dã man của lính TQ điều này cho thấy nếu chiến sự còn xảy ra nữa thì hoàn toàn có thể đến lúc nào đó Matxcơva “điên lên” và chỉ cần họ bắn một quả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân vào Bắc Kinh thì phía TQ không có khả năng bất kỳ nào để chống trả, sẽ tiêu hủy hoàn toàn ít nhất ½ thủ đô TQ (lúc đó mới có 7 triệu dân). Còn về phía TQ tuy mới có bom khinh khí (ở chế độ thử nghiệm thành công) nhưng họ luôn kém về việc làm sao đưa bom hay đầu đạn tới đích được, và với một lãnh thổ bao la như LX thì TQ chả thể tiêu diệt được thủ đô Matxcơva hay trung tâm kinh tế chính trị lớn nào. Nhưng một cuộc chiến hạt nhân như vậy hoàn toàn chả đem lại lợi ích gì, kể cả cho Mỹ. Thậm chí có khả năng chiến tranh thế giới lần thứ 3 sẽ xảy ra chỉ vì một bãi bồi không ai biết – Damansky, và thế là có lẽ lần đầu tiên Mỹ đã rất cố gắng về mặt ngoại giao để dàn hòa hai “anh em XHCN” là LX và TQ! Nhưng có lẽ cũng không hiệu quả lắm, bằng chứng là TQ lại ra đòn chớp nhoáng và bất ngờ một lần nữa, lần này thời điểm tấn công còn được lựa chọn kỹ hơn…

Ngày 14/3 vào lúc 15h (giờ địa phương, còn ở thủ đô lúc này mới 9h sáng tức là khá sớm) Matxcơva ra lệnh rút toàn bộ quân khỏi đảo (có một trung đội ấy mà!). Lập tức lính TQ tràn lên chiếm toàn bộ đảo. Sau đó phía LX cử 8 xe bọc thép tiến về phía đảo Damansky, quân TQ vội tháo lui. Nhưng chỉ mấy tiếng sau, 20h lại có lệnh trên “quay lại đảo” – thế là lúc ấy bộ đội biên phòng mới quay lại đảo. Hôm sau khoảng 500 quân TQ tấn công đảo, với sự trợ giúp của khoảng 50-60 khẩu pháo và súng cối. Phía LX đáp trả quyết liệt, họ có gần 60 chiến sĩ và 4 chiếc xe bọc thép, 4 chiếc xe tăng T-62. Nhưng sau mấy giờ đấu súng thì sự chênh lệch về lực lượng được thể hiện rõ ràng, quân LX đành lùi lên bờ sông bên mình, vài chiếc tăng bị bắn cháy, đạn dược cũng đã cạn. Tình thế vô cùng nguy cấp: Bộ chính trị thì không cho phép đánh trên diện rộng (tức là cấm sử dụng tới quân đội mà chỉ lính biên phòng thôi) mà như thế quân TQ đông gấp nhiều lần có thể đánh chiếm và tiêu diệt đồn biên phòng đã cạn kiệt súng đạn! Trong tình thế đó trung tướng chỉ huy quân khu Viễn Đông Oleg Losik đã dũng cảm chịu trách nhiệm (chứ không chờ đợi lệnh từ Matxcơva nữa) ra lệnh đưa vào trận vũ khí bí mật là dàn hỏa tiễn phản lực “Grad” BM-21 (“Mưa đá”). Chỉ dập xuống 10 phút, hỏa tiễn Grad đã tiêu diệt toàn bộ vũ khí, khí tài, thậm chí toàn bộ lực lượng chỉ huy của quân TQ không chỉ ở trên đảo mà còn sâu vào trong đất liền của TQ. Sau đấy còn vài đợt tấn công lẻ tẻ của quân TQ nhưng khá yếu ớt và cuối cùng TQ bỏ lại chiến trường không kèn, ko trống…

Muốn hình dung ra “Mưa đá” xin xem clip sau:
https://www.youtube.com/watch?v=p-lGwyySrwY
https://www.youtube.com/watch?v=mzfLZcE3Ze8

Ngày chiến sự được chọn không phải tình cờ. Hôm đó khai mạc giải vô địch thế giới về khúc côn cầu trên băng tại Thụy Điển, và mọi sự chú ý của người dân Liên Xô đang hướng cả về Stokholm. Đó không còn là thể thao đỉnh cao nữa, mà là sân chơi chính trị: cả LX và Tiệp Khắc đều rất yêu thích môn chơi này, và Tiệp có lẽ chỉ có thể “trả thù” được LX trong dịp này nữa thôi – đội tuyển của họ rất mạnh. Chưa kể Canada, Mỹ, rồi ngay cả Thụy Điển, Phần Lan cũng mạnh đều. Về phía LX họ có đội mình mạnh với ngôi sao trẻ Kharlamov, nhưng cảm nhận của họ về trách nhiệm chính trị trước nhà nước và nhân dân rất lớn lao, rất khó tập trung. Khoảng 100 nghìn dân Tiệp đã chạy sang Bắc Âu sau sự kiện “mùa xuân Praha” và họ điên cuồng cổ vũ cho Tiệp tất nhiên rồi, và bất cứ đội nào gặp với đội tuyển LX. Đám đông điên cuồng hô khẩu hiệu chống LX, và họ hô vang tên “Damansky”! Nhưng đúng vào ngày chiến sự 15/3/1969 đội tuyển Nga thắng Mỹ với tỷ số không tưởng 17:2!

(Kể thêm cho người yêu thể thao: giải năm đó đáng nhẽ cần tiến hành ở Praha, nhưng vì có sự kiện “mùa xuân” kia nên phải chuyển địa điểm. Cách chơi thay đổi, chỉ có có 6 đội và đánh thành 2 vòng, tất cả đều gặp nhau 2 lượt. Chưa bao giờ Canada và Mỹ lại thua thảm như lần này, trong khi đó Canada đang giữ kỷ lục về số lần vô địch. Vô cùng căng thẳng và kịch tính từ đầu giải tới cuối giải, nhất là những trận LX gặp Tiệp, 2 lần LX đều thua dưới áp lực quá lớn của khán đài và sự khiêu khích của đối phương. Tiền đạo Tiệp Golonko khi ghi bàn xong cầm gậy kiểu như cầm tiểu liên lia chĩa vào người các cầu thủ LX cả trên sân và trên ghế dự bị như đang nhả đạn, trọng tài và ban tổ chức cũng làm ngơ. Cuối giải 3 đội bằng điểm nhau: CCCP-Thụy Điển-Tiệp và LX đoạt huy chương vàng chỉ nhờ vào chỉ số phụ mà thôi, cực kỳ may mắn! Tuy vậy đó là thành tích phi thường nếu xét trong hoàn cảnh căng thẳng chính trị lúc đó. Firsov là tiền đạo LX được bình chọn là người chơi hay nhất giải! Canada tự ái vì thua tới mức bỏ tham gia các giải những năm sau, chờ cho đến khi Liên đoàn phải chấp nhận cho các cầu thủ chuyên nghiệp tham gia, lúc đó mới chịu quay lại…).

SAU CUỘC CHIẾN:
Bởi đảo Damansky ở nơi quá hẻo lánh nên cộng đồng quốc tế chỉ có thể theo dõi tin tức qua truyền thông của LX và TQ, mà 2 nguồn đó thường rất trái ngược nhau nên nói chung chả biết bên nào mà ủng hộ. LX mất 58 người (trong đó có 4 sĩ quan), TQ mất từ 600 đến 3000 người, con số chính xác cho đến bây giờ vẫn chưa được bạch hóa. Cộng với việc phía LX tiêu diệt rất nhiều khí tài của TQ, còn TQ bắn hạ được mấy xe bọc thép và đánh chìm được một chiếc T-62 xuống đáy sông Ussuri. Sau khi đình chiến phía TQ tìm cách kéo chiếc xe tăng lên bằng được (chiến lợi phẩm mà) còn phía LX dùng súng bắn tỉa bắn để ngăn chặn và cũng định kéo lên để bảo toàn… cuối cùng khi băng tan TQ cũng đem được nó về bất chấp ý định dùng súng cối bắn phá để không cho lọt vào tay địch, chiếc xe tăng xấu số này được TQ vừa triển lãm vừa để làm mẫu bắt chước chế tạo T-62 (vì LX cho TQ mẫu tăng chỉ đến T-59 sau đó quan hệ 2 “anh em” xấu đi rồi). Nhưng bắt chước về khí tài chưa bao giờ là chuyện dễ – xe tăng “nhái” này mang ký hiệu WZ-122A “San Ye” và có một số “cải tiến” từ phía TQ, nhưng mất mấy năm cải tiến mà cả 122A và 122B đều cho thấy không hề thích hợp với điều kiện chiến trường…

Hai bên vẫn còn bắn nhau qua lại cho tới tận 10/9 thì có quyết định đình chiến, dành cho ngày đàm phán rất quan trọng vào hôm sau. Hôm sau 11/9 sau khi sang Hà Nội để dự lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường về Alexey Kosygin bay rẽ qua Bắc Kinh, đàm phán và ký với người đồng cấp Chu Ân Lai Hiệp định về việc chấm dứt những hành động thù địch, trong đó thống nhất 2 bên không đưa quân lên đảo Damansky. Cuộc đàm phán tiếp theo 20/10/1969 thống nhất xem xét lại toàn bộ biên giới 2 nước, và trong đó đảo Damansky sẽ thuộc về TQ vào năm 1991! Những gì người lính biên phòng đã phải hy sinh xương máu để bảo vệ tại sao bên ngoại giao lại có thể dễ dàng đưa vào tay đối thủ như vậy quả là không dễ hiểu – chỉ có một giải thích sau đó 40 năm có vẻ có chút căn cứ. Theo loạt bài này của “Le Figaro” hay “South China Morning Post” (Hồng Kông) thì 5 ngày trước đó thế giới đứng trước một thảm họa hạt nhân: LX chuẩn bị đòn hạt nhân giáng xuống TQ, còn Mỹ khi biết được đã tuyên bố sẽ bác bỏ thỏa thuận hạt nhân đã ký với LX, và sẽ tấn công cùng lúc 130 thành phố lớn nhỏ của LX. Chiến tranh thế giới lần thứ 3 bằng vũ khí hạt nhân nnày chắc chắn sẽ đẩy loài người về thời kỳ đồ đá… Và thế là các cuộc đàm phán tay đôi, tay ba đã cứu nhân loại (khỏi chính họ chứ ai!). Còn chúng ta đâu có biết!

Sau chiến sự KGB tiến hành thẩm tra hành động của từng người lính đã tham gia chiến đấu, bất kể còn sống, bị thương hay đã hy sinh. Kết quả cho thấy: không một người lính nào hèn nhát, không ai có một ý định nào đầu hàng hay tháo chạy, còn các chỉ huy (có những người đã từng tham gia chiến tranh thế giới lần thứ II) là những tấm gương sáng cho lớp trẻ. Chính Yuri Andropov khi đó nắm quyền KGB – một người nổi tiếng rất “tiết kiệm” danh hiệu và huy chương – đã đề cử cho các chiến sĩ biên phòng vụ Damansky 5 người nhận “anh hùng LX” và 125 huân huy chương các kiểu – và qua đây cũng cho TQ thấy rõ định hướng tương lai của KGB cũng như LX nói chung đối với kẻ láng giềng tráo trở là TQ, rằng LX sẽ vô cùng “rắn” đấy.

1972 ở Bắc Kinh Mao gặp Nixon. Sau đó Nixon sẽ gặp lãnh tụ LX Brezhnev ở Matxcơva. Chủ đề chính có lẽ không nói thì ai cũng biết: giải trừ vũ khí hạt nhân, bài học Damansky và có lẽ cả bài học Việt Nam nữa. Thế giới đã đổi khác hoàn toàn sau sự kiện Damansky, và thậm chí bây giờ cũng chả còn Damansky nữa, chỉ còn Trân Bảo đảo. Và những bài học đáng ra không thể nào quên…

VÌ SAO?
Nhưng vì sao TQ đã tấn công cái đảo “chim ỉa” Damansky ấy, cho đến ngày hôm nay các nhà lịch sử và chính trị gia vẫn còn phải vò đầu bứt tai mà khó hiểu. Người duy nhất biết là Mao Chủ tịch đã đem theo bí mật xuống mồ. Dự đoán của tác giả (tất nhiên là cũng dựa trên những phân tích của người đi trước thôi) như sau:
Năm 1969 trong nước Mao đang gặp khá nhiều khó khăn như kinh tế kiệt quệ, chạy đua vũ trang tốn kém, quan hệ quốc tế hầu như chả có gì. Để nâng uy tín hay giá trị của mình trên trường quốc tế Mao phải “làm một vụ” gì đó đình đám để thế giới phải giật mình, Mỹ và phương tây phải nể mặt, ngay trong nước khi có chiến sự thì xử lý các vấn đề nội bộ cũng có quyền cao hơn hẳn. Trong khi Brezhnev và Nixon định bắt tay nhau chia đôi thiên hạ thì Mao không thể thúc thủ đứng nhìn. Tóm lại là một logic rất “Á Đông” mà người phương tây khó mà hiểu được, bởi vì Liên Xô sẽ thua (vừa bất ngờ vừa đông quân kiểu gì chả thắng) mà như thế uy tín của LX sẽ giảm sút nghiêm trọng (không phải chỉ với Mỹ hay Tây Âu đâu, ngay cả đối với “người em” Việt Nam nếu “anh cả” thua “anh hai” thì phải biết nghe lời ai rồi chứ…). Tức là bất chấp đạo lý, cuộc chiến này sẽ đượcgiữ ở mức độ “xung đột” thôi chứ chưa phải “chiến tranh” nhưng sẽ đem lại cho TQ và cụ thể là chính phủ Mao lợi đơn lợi kép. Chỉ có điều “người tính không bằng trời tính” dù người đó có là Mao Trạch Đông đi chăng nữa. TQ biết thừa Matxcơva sẽ không cho động binh (mà sẵn sàng hy sinh tính mạng của một vài chục, một vài trăm lính biên phòng – chính trị tàn khốc và bất nhân như vậy đấy) nên chắc thắng, nhưng không thể ngờ được tới sự chống trả quyết liệt rất anh hùng của chỉ mấy trăm lính biên phòng LX dù bị đánh úp bất ngờ. Và nhất là không thể ngờ được việc viên tướng Alexey Losik dám bất chấp lệnh trên để khai hỏa cứu đồng đội, càng không thể ngờ uy lực của “Grad” lại kinh hồn đến thế… Dù có thể coi rằng về sau TQ vẫn đạt được những mục đích đặt ra của mình, nhưng hệ lụy đối với TQ nói riêng và lịch sử thế giới nói chung là không hề nhỏ! (xem phần sau).

HỆ LỤY của DAMANSKY – TRÔNG NGƯỜI LẠI NGHĨ ĐẾN TA
Cho đến tận bây giờ tưởng chừng như mọi việc “hai năm rõ mười” cả rồi – thế nhưng không, truyền thuyết có sức sống dai dẳng hơn mọi phân tích, mọi tài liệu, nhất là khi người ta đã quen với lối tuyên truyền “láo” của cả hai “nước anh em” là LX và TQ. Thế cuối cùng LX đã chiến thắng bằng vũ khí gì? “Grad” ư, hỏa lực rất mạnh đấy, nhưng truyền thuyết trong dân gian nói rằng không chỉ có một loại vũ khí giết người hàng loạt ấy tham chiến đâu. Và các nhà nghiên cứu, nhà báo của LX, TQ và phương tây vẫn cứ tiếp tục tìm ra chứng cứ cho điều đó, sự thật chả biết thế nào…
Truyền thuyết thứ nhất kể rằng LX đã dùng vũ khí laser – ai đã sống qua những năm tháng 60-70 dù chỉ ở Việt Nam thôi cũng sẽ nhớ, “laser” là một từ rất mốt bấy giờ, và LX đi đầu trong việc thiết kế vũ khí laser. Những nhân chứng sau này vẫn kể mãi về những xác chết bị đốt cháy còng queo biến dạng, những vũ khí khí tài bị đốt cháy rụi chứ không bị nổ tung… Truyền thuyết thứ hai khó tin hơn, nói về việc LX sử dụng vũ khí hạt nhân trong diện hẹp. Truyền thuyết thứ ba theo tôi là hoàn toàn có cơ sở (và tôi được nghe chính người dân vùng ấy từ cả 2 phía của đường biên nói tới không chỉ một lần dù đã năm chục năm trôi qua). Đó là LX sử dụng tới một thứ vũ khí hóa học bí hiểm, khi nó được tung ra kẻ thù lập tức bị chết ngay tại trận, và nó được sử dụng không chỉ ở đảo Damansky mà cả một dọc biên giới, vì lúc đó lực lượng quân sự quá chênh lệch, biên giới lại quá dài, không có cách khác nào có thể ngăn chặn bước tiến của quân TQ nữa. Thôi không đoán mò về vũ khí bí mật nữa, chỉ biết nó có uy lực đặc biệt, và TQ sợ, sợ lắm, sợ cho đến bây giờ vẫn sợ, sợ đến mức còn tin vào sự tồn tại của nó hơn cả dân Nga!
(Tôi đã ở vùng này nhiều năm, đi qua đi lại biên giới và luôn ngạc nhiên, rằng cả một chiều dai biên giới như vậy, với lèo tèo vài triệu dân so với diện tích bằng cả chục lần nước ta, làm sao LX và sau này là Nga vẫn bảo vệ lãnh thổ tốt như thế? Vâng, tất nhiên TQ không hết dã tâm đâu, vẫn ào ạt sang Viễn Đông để làm (và phá hoại về kinh tế): chặt rừng, săn hổ gấu, thu mua hải sản, lập chợ, buôn hàng hóa biên mậu… thôi thì chả có gì mà họ không dám làm. Nhưng suốt bao năm tôi chưa bao giờ nghe một vụ “mất cột mốc biên giới” nào của Nga, dù chỉ một mét đất TQ cũng không dám xâm lấn. Cũng như chưa bao giờ có chuyện tàu TQ hay Korea, Nhật Bản dám vào đánh cá trộm ở lãnh hải Viễn Đông của Nga, vào mua trộm thì may ra! Đơn giản là họ sợ, sợ lắm rồi…).

Và khi “người anh em XHCN” TQ bất ngờ mở cuộc chiến tranh xâm lược “người em” Việt Nam 2/1979 tức là đúng 10 năm sau Damansky thì chúng ta đã mất cảnh giác, chuẩn bị không hoàn toàn tốt và hình như quên mất bài học Damansky hay Trân Bảo đảo. Lại chẳng có trong tay vũ khí hủy diệt “Grad” chả khác nào An Dương Vương không có nỏ thần. Nhưng tinh thần anh dũng của quân và dân ta cũng như kinh nghiệm trận mạc suốt bao nhiêu năm đã cho chính kẻ xâm lược một bài học, cũng như không thể quên được sự giúp đỡ chí tình của một “người anh” khác. LX lúc đó ngoài việc tuyên bố ủng hộ chúng ta, còn giúp ta lập cầu hàng không chuyển quân thần tốc từ mặt trận K ra phía bắc. Hơn thế nữa LX tổ chức cuộc tập trận lớn nhất trong lịch sử cũng chính tại vùng đất xa xôi này, sang cả cao nguyên Gobi trên đất Mông Cổ, còn hạm đội Thái Bình Dương của LX được đưa vào báo động cấp cao nhất, sẵn sàng tham chiến. Có lẽ bài học Damansky còn in hằn quá rõ trong những cái đầu nóng của kẻ bành trướng, và hành động này của quân đội và nhân dân LX (cũng khá nhiều mất mát đau thương đấy) đã là một trong những nguyên nhân chính để quân TQ nhục nhã rút lui khỏi đất Việt Nam.

Nhưng thời thế thay đổi, hình như những sự kiện động trời 1969, 1979, 1989 của TQ không làm họ yếu đi mà ngược lại…

Tên gọi “Damansky” ngày nay chỉ còn trong sử sách và văn thơ. Trân Bảo đảo được TQ đưa vào danh sách Unesco “khu bảo tồn thiên nhiên”.

(Tham khảo:
https://www.youtube.com/watch?v=6leI3PmdCng
https://www.youtube.com/watch…

Bài hát “Sự hiền dịu” qua phần trình bày của Maria Kristalinskaya cũng được coi là dành tri ân các liệt sỹ của trận chiến Damansky:
https://www.youtube.com/watch?v=m2n4ZcWxlUg

Xin xem tiếp: “Cuộc gặp gỡ giữa Brezhnev và Ford tại sao lại diễn ra ở nơi chỉ cách Damansky 300 km?” và “1988 Liên Xô đã thay lòng đổi dạ với Việt Nam như thế nào”).
(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2194670253928233)

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN – P.4

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN un- P.1

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN – P.4

( Tiếp theo của:
https://www.facebook.com/namhhn/posts/1778417212220208
https://www.facebook.com/namhhn/posts/1779492792112650
https://www.facebook.com/namhhn/posts/1783909418337654 )

Nửa do công việc, nửa do trí tò mò mà tôi trong vòng 2 năm đã đi ngang dọc không biết bao lần giữa miền Viễn Đông của Nga và miền bắc Trung Quốc. Phía Nga là từ Blagoveshensk cho tới Khasan, phía Trung Quốc là hai tỉnh Hắc Long Giang và Cát Lâm diện tích có lẽ đều to hơn nước ta. Quả là đi nhiều cũng biết được những thứ mà ít sách vở cho ta hay, chẳng hạn như cảm nhận được rõ ràng đường biên giới này có lẽ Sa Hoàng để lại, quả thật có lợi cho nước Nga rất nhiều. Ngoài những đoạn mà sông Hằng Hà là biên giới tự nhiên thì thấy ngay bên Nga rừng cây xanh mướt quanh năm, dù đã chặt phá rất nhiều nhưng có lẽ còn nửa thế kỷ nữa con người mới phá hết được. Nhưng phía Trung Quốc thì núi đá hiểm trở, bất chấp lệnh cấm chặt rừng thì vẫn trơ ra cằn cỗi, có lẽ khí hậu và thổ nhưỡng khắc nghiệt chả cây nào mọc nổi. Khá giống vùng phía Nam Trung Quốc: giữa hai tỉnh giao thông bất tiện đến mức đi về Bắc Kinh hay đi sang Nga rồi đi tiếp còn tiện hơn! Tôi đã đến Harbin (Cáp Nhĩ Tân) vào giữa mùa đông, với cái lạnh chưa thấy ở đâu lạnh hơn, mà vẫn thấy dân tình đi xem băng đăng! Một thành phố còn giữ nhiều nét “CCCP” nhất Trung Quốc, thấy bảo khá nhiều máy móc công nghiệp nặng được Liên Xô chuyển giao từ thuở nào nay vẫn còn chạy được! Xưa kia cũng khá nhiều cán bộ ta sang đây học hành, tham quan… Cát Lâm – thủ phủ của tỉnh là Trường Xuân là nơi có vẻ rất ít người Việt Nam đặt chân tới, một tỉnh khá là đơn điệu nhưng lại có nền công nghiệp ô tô, máy kéo bậc nhất Trung Quốc! Nhung hươu và sâm (thật giả có trời biết được) thì vô cùng phong phú, giá nào cũng có, tôi vẫn nhớ mãi những hộp sâm rất to đẹp, bao bì chả kém gì những quà tặng quý giá ở nước ta, ở chợ bán vài chục tệ, hay đông trùng hạ thảo có giá… chục tệ! Và cũng bắt chước như CCCP, ở đây cũng có nhà máy hóa dầu, như thường lệ (để tránh bị tấn công) nằm sâu trong đất liền, bất kể rất không thuận lợi cho chuyên chở…



Những gì còn đọng lại trong ký ức có lẽ là những gì không ngờ nhất. Đầu tiên là tài nghệ lái xe: có lẽ dân lái xe Trung Quốc xứng đáng đứng đầu thế giới! Bất chấp đồi núi hiểm trở phía bắc có hệ thống đường xá tàm tạm, và tôi chưa thấy một va quệt nào hay những chiếc xe bị tai nạn nằm lại dọc đường, các tài xế với những chiếc VW Jetta sản xuất nội địa phóng lúc nào cũng như bay, bất kể đang ngày hay đêm! Rồi đến việc không ngờ một vùng núi non biên thùy như thế lại là thủ phủ MDF có lẽ của cả thế giới mất – hàng trăm nghìn cái xưởng to nhỏ khác nhau, sản xuất từ thủ công tới hiện đại, có lẽ ăn theo cái vụ nhập (lậu) gỗ từ Nga sang. Và không ở đâu có nhiều quán thịt nướng như ở đây: quán nào trông bên ngoài cũng xuyền xoàng thôi, nhưng bên trong rất ngăn nắp, có hệ thống gom hút khói tại bàn mà sau này mãi tới 2015-2016 ở Hà Nội tôi mới thấy bắt đầu xuất hiện.

Thế rồi hơn chục năm trước tôi cũng thực hiện được mong muốn của mình khi “thổi hồn vào đất” trên sườn núi bên Nga, đó là tới thăm hồ thần, núi thiêng nhưng đi lên từ phía đất Tàu. Trước hết xin tóm lược một chút thông tin về nó đã:


NÚI THIÊNG PAEKTUSAN
Núi Trường Bạch, hay Trường Bạch Sơn, Changbai Mountin hay Paektusan đều là tên ngọn núi cao nhất trên bán đảo Triêu Tiên và vùng Mãn Châu Lý, có nghĩa là “ngọn núi luôn có đỉnh màu trắng” – cao 2744m cơ, mùa đông tuyết phủ còn mùa hè đỉnh nó trắng bởi một loại đá cuội. Và trên đó có hồ nước tuyệt đẹp, phải leo tận nơi mới thấy được vì nó vốn là miệng một núi lửa đã/đang tắt, hồ Thiên Trì (Tianchi hay Heaven Lake). Từ hồ này chảy ra con sông Tumagan, nhánh lớn là biên giới giữa Bắc Hàn và TQ, nhánh nhỏ là biên giới giữa Bắc Hàn và Nga (và còn thêm con sông nữa chảy vào hệ thống sông Amur của Nga!). Đây là ngọn núi lửa nằm giữa 2 nước Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, lại là ngọn nằm gần nhất so với Vladivostok – thành phố cảng của Nga mà Putin vừa chỉ định là thủ phủ của cả vùng Viễn Đông (trước đây cứ mặc định là Khabarovsk). Và núi lửa này khá đều đặn đấy, 100-200 năm thể nào cũng hoạt động trở lại một lần!

Đỉnh Paektu này được tạo ra bởi một vụ phun núi lửa kinh hoàng – năm 969 – và được tính toán có mức phun 7/8 điểm, đã giải phóng 96 km3 đất đá – nó là một trong những vụ phun núi lửa mạnh nhất trong 5000 năm cuối của loài người! Thế là sau vụ núi lửa hoạt động kinh hoàng ấy đất nước Bột Hải (xem lại phần 2-3) mất mùa đói kém, hoạn nạn long đong đến mức mất đi cả 150 năm lịch sử…

Núi thiêng liêng với TQ đã đành (một trong 10 ngọn núi thiêng của họ), với cả dân tộc Triều Tiên tất nhiên rồi, nhưng với Bắc Triều Tiên nó còn “thiêng” hơn nữa, bởi theo chính sử của Bắc Hàn thì đồng chí Kim Nhật Thành lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang ở đây, và dẫn dắt quân dân đi hết từ thắng lợi này tới thắng lợi khác, còn chủ tịch tương lai Kim Jong-Il thì ra đời trong cách mạng tại chiến khu này trên sườn núi thiêng (Còn sổ sách của Liên Xô thì hơi khác một chút, lãnh tụ tương lai Kim Nhật Thành thì làm sĩ quan Hồng quân ở Khabarovsk cho đến cấp đại úy, còn ở làng Vyatky cách thành phố Khabarovsk 70 km cậu bé Kim Jong-Il đi học trường Nga với tên “Yura” – rồi sau đó 1945 Stalin chọn bố cậu làm “hạt giống đỏ” thì hai bố con mới về Bắc Hàn…).


Vậy thì ngọn núi Bạch Đầu này ngoài chuyện “thiêng” ra đã đành rồi, nó có gì quan trọng? Xin thưa, rất quan trọng (và phiền toái) bởi nó liên quan đến rất nhiều quốc gia như vậy! Biên giới này được các nước công nhận vào 1962, ở đây được coi là khu bảo tồn thiên nhiên chung của TQ và Bắc Hàn, nhưng cả 4-5 nước (thêm Nga, Nhật nữa) theo dõi kỹ việc các bên có “tí toáy” làm gì ở khu vực nhạy cảm này không. Có đấy, bên Bắc Hàn thì thử vũ khí hạt nhân, tất nhiên không ngay tại đây nhưng cũng gần thôi, những vụ thử này rất dễ “đánh thức người đẹp đang ngủ yên” là ngọn núi lửa này. Mà các nhà khoa học đo được rồi, ở dưới đỉnh núi (dưới hồ Tianchi nữa) là khối magma khổng lồ, mỗi năm núi bị đội cao lên 3mm, chắc chắn 100% khối nóng bỏng khổng lồ này sẽ phải “phụt ra” – mà như thế thì ngay cả Hokaido của Nhật nổi tiếng là thanh sạch cũng ngập tràn tro bụi! Không chỉ Bắc Hàn “nghịch dại” đâu, bên phía TQ cũng xây dựng tùm lum (Bắc Hàn đổ cho TQ xây nhiều để sau này khẳng định chủ quyền cho dễ nói), và nhất là nhà máy điện nguyên tử Jingyu sẽ hoạt động ngay cạnh cả Bắc Triều lẫn Nam Hàn (trò dọa rất giống với ai kia đặt nhà máy điện nguyên tử gần Móng Cái). Vì ở Bắc Triều mạng xã hội bị cấm cản nên trên mạng chỉ có một cuộc chiến dữ dội giữa người dùng TQ và Nam Hàn! Bất phân thắng bại… Vậy nên chuyện chính phủ Nam Hàn nhìn xa trông rộng, muốn chuyển hướng nền kinh tế sang đầu tư ở nước ngoài, và chuyển 30-50% dân số di cứ ví dụ sang Việt Nam, theo tôi hoàn toàn hợp lý thôi – sống cạnh một núi lửa có thể phun bất cứ lúc nào (chu kỳ phun đã đến rồi!) và 2 ông hàng xóm nhăm nhe “cưa bom” như thế không đi mới lạ! Đấy là không ai dám bàn tới kịch bản một kẻ thù vô hình (hay ông Bắc Triều khùng lên) nện vũ khí hạt nhân vào chính dãy núi thiêng của mình, thì hậu quả khôn lường! Tôi vẫn cứ nhìn thấy trước dân tộc Triều Tiên sẽ lên đường đi tới những vùng đất mới, nhưng trong tâm họ không bao giờ quên được núi thiêng, hồ thần của mình…

LÊN ĐỈNH:
Chuyến thăm Paektusan cuối cùng cũng thành hiện thực (vì rủ mãi mới có người Việt ở TQ muốn đi cùng, chứ thấy xa thế đa số là ngại…). Từ làng du lịch Erdaobaihe chúng tôi đi khoảng nửa tiếng thì đến – thấy đông đúc toàn khách du lịch, đi theo từng đoàn. Đa số người TQ, cũng có nhóm du khách Hàn Quốc, giá có trẻ có. HDV lấy vé, chúng tôi đi qua cửa soát, ngồi lên những chiếc xe khách cửa kính lớn để dễ ngắm cảnh. Cả trăm chiếc bus chạy ngược xuôi như thế. Đến chân đỉnh đầu tiên, mất độ 20 phút – rất đông khách đã đến trước chúng tôi, nhưng tất cả đều trật tự, không chen lấn. Chuyển xe – lên núi chỉ có 2 loại chạy: Mitsubishi (6 người) hay Ssangyong Grace (9 người)/ Đường bê tông hết, nhiều chỗ có lẽ sợ trượt nên trải sỏi. Xe phóng như bay (ở TQ phải quen với điều này thôi!). Các cánh rừng lướt qua cửa kính xe, cấy lá to, cây lá kim, đài nguyên với nhiều bạch dương, cuối cùng cảnh quan mở ra chả khác gì đồng cỏ thung lũng ở núi Alpơ! Chỉ 10 phút chạy xe thôi không khí thoáng đãng và lạnh khác hẳn, có thế nhìn thoáng xung quanh 360 độ. Đẹp nhất là “núi đầu trắng” rồi, thực ra có tới 16 đỉnh núi cao, mây bay còn dưới chân chúng tôi nhiều! Tất cả du khách xếp hàng rồng rắn leo thêm độ 100 m nữa để ngắm hồ… Quang cảnh thật huy hoàng! Trèo tới nơi, bạn sẽ thấy hàng loạt đỉnh núi và lúc này mới thấy hồ Tianchi với nước xanh biêng biếc và không một gợn sóng nhỏ (trên này không có gió!). Bởi khá bất ngờ khi lần đầu nhìn thấy hồ, không ai nghĩ nó lại lớn thế, đẹp thế nên khách du lịch ai cũng hứng khởi vô cùng, chụp ảnh, hò hét, hoa tay múa chân… Nhất là khách gốc Hàn thì khỏi nói rồi (Đáng tiếc hồi đó smartphone chụp còn kém lắm, chất lượng ảnh chả ra gì nên chúng tôi hầu như không có ảnh – có dịch vụ chụp ảnh lấy ngay mà thế nào lại chả chịu dùng tới). Chúng tôi hôm đó gặp may với nhiệt độ gần 20 độ, trời trong veo, chứ thấy bảo có rất nhiều hôm dưới chân núi thì nắng nhưng lên mây mù che phủ, chả nhìn thấy nhiều như vậy! Hãy xem chục năm sau Kim Ủn và người đồng cấp từ Nam Hàn cùng phu nhân cùng nắm tay nhau chụp ảnh trên núi thiêng, cạnh hồ thần – họ vui sướng thực sự đấy chứ không phải “tạo dáng” đâu!

Hồ Thiên Trì (mặc dù “trì” có vẻ là “ao” rồi) Tàu viết là Sky Pond (TQ có thêm 2 hồ nữa tên cũng rứa). Dài gần 5 km, rộng 3,5 km, sâu tới 384 m. Thấy bảo chỉ có loại cá sông “malma” sống trong hồ thôi. Như đã biết hồ tạo thành từ núi lửa phun năm 969, nên nó 1050 tuổi rồi. Nó trên cao độ 2189m – kỷ lục Ginnes cho hồ núi lửa cao nhất và sâu nhất thế giới. Tất nhiên huyền thoại cũng thêm thắt rằng trong hồ cũng có quái vật ngàn năm tuổi, mà nhiều người đã từng chụp được ảnh…Chỉ biết rằng nếu núi lửa hoạt động trở lại, thì lượng nước khổng lồ trên đỉnh núi này đủ cuốn trôi cả một vùng rộng lớn của bắc TQ! Nhân thể cũng xin bổ xung, rằng dân Mãn Châu (quê hương nhà Thanh) cũng coi đây là vùng đất thiêng liêng của họ nữa đấy!

Vùng này tuy là khu bảo tồn động thực vật nhưng phía TQ vẫn nghĩ ra cách thu hút khách du lịch kiếm tiền, thậm chí họ đã xây cả sân bay cho mục đích này! Chỉ sợ mỗi mấy ông lái xe jeep phóng như bay, cả lúc lên lúc xuống HDV chỉ cho chúng tôi có đường có biển dẫn sang lãnh thổ Bắc Hàn và biển cấm (có lính canh) nhưng phóng kinh quá, chả kịp nhìn! Không ai lái giỏi hơn lái xe TQ!

Ngoài ra còn có thác nước, có đường hầm dài 2860 m để đi lên hồ nếu trời tuyết xe không lên được (mỗi năm cũng đến 8 tháng có tuyết), có rừng đá… Cũng lại khắp nơi bán đồ ăn, đồ lưu niệm, TQ mà! Sau đó chúng tôi quay về thành phố Hunchung (Hoàng Xuân) thôi, 5 giờ xe chạy. Sau này thấy bảo có cả cáp treo…



ĐỘNG NÃO
Vậy hãy cùng tôi suy xét, dù chỉ là những suy luận hết sức cảm tính, mò mẫm, vô thưởng vô phạt: sau hơn mười năm từ dạo ấy, sau khi năm ngoái hai thủ lĩnh hai miền Triều Tiên đã gặp nhau, dắt tay nhau lên đỉnh núi thiêng, bên bờ hồ thiêng của dân tộc, và nhất là chỉ vài hôm nữa thôi Kim Jong Un với Donald Trump sẽ gặp gỡ tại Hà Nội thì chuyện gì có thể xảy ra. Thế này nhé: 2 miền nam-bắc Triều Tiên với cội rễ lịch sử, văn hóa sâu nặng như thế họ sẽ lại giang rộng vòng tay, lại re-union dù có là một quá trình không nhanh, và vất vả vì thể chế đang quá khác nhau. Nhưng lịch sử dân tộc có một sức mạnh kỳ lạ, không ngăn chặn được mãi đâu. Trong khi đó thì Nhật Bản có lẽ là nước không hài lòng nhất, trong lịch sử hai dân tộc đã chiến tranh nhiều, còn ngày nay ngay về kinh tế thì mô hình Nam Triều Tiên đang có vẻ có những nổi trội hơn so với cách làm kinh tế của Nhật khá là bảo thủ. Một nước Triều Tiên thống nhất là điều Nhật không muốn nhất, thì họ phải làm sao? Nhật có khả năng “đi đêm” siêu việt, có lẽ chả nước nào bằng kể cả dân Do Thái, đó là nỗi hiểm nguy cho các tiến trình tích cực ở bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc xin thưa là thế này: trong lúc đang chiến tranh kinh tế với Mỹ và có vẻ đang thua thì sẽ cản trở việc Trump ghi điểm ngay trên sân khấu chính trị châu Á bên nách của mình! Mặc dù bản thân TQ cũng được lợi hơn với việc Bác và Nam Hàn thống nhất hay ít ra là cũng không hầm hè dọa xung đột vũ trang, nhưng trong trường hợp cụ thể này vì TQ có áp lực nhất định lên Kim Un và tôi vẫn thiên về việc người hàng xóm to xác này sẽ “chọc ngoáy” thật lực, trong việc này có thể coi là cùng bè với Nhật vốn là kẻ thù không đội trời chung của mình. Vậy còn lại một tác nhân cuối, là Nga, như ta biết Putin có quan hệ “trên mức bình thường” từ lâu với Nam Triều Tiên, còn với Bắc Hàn thì lịch sử để lại, Nga luôn không che dấu sự giúp đỡ đa dạng của mình, bất kể việc cả 2 nước này từ lâu ta đừng nên coi là XHCN nữa! Hiện nay Nga và Mỹ đang rất nhiều hục hặc, đáng ra trong việc này Nga sẽ về phe TQ để “phá” hơn, nhưng còn lý do khác, chống đối Trump khắp nơi có vẻ bất lợi cho Putin (và Trump với cuộc bầu cử tiếp theo có lẽ cũng phải “liệu cơm gắp mắm” với đối thủ Nga). Mục đích cao nhất của Trump trong các đàm phán, đó là giải trừ vũ khí hạt nhân của Kim, và trong việc này Nga có một lợi thế địa lý, là “dù sao thì cũng chả làm sao”, tức là dù chiến tranh 2 miền Triều Tiên, chiến tranh Bắc Hàn-Nhật, hay xung đột với vũ khí hạt nhân của Ủn, hay kể cả Paektusan phun lửa một ngày kia… thì các nước khác có lẽ ảnh hưởng nặng nề hơn Nga nhiều! Tỷ số vậy tạm coi là 3-2 (Bắc, Nam Hàn, Nga chống với TQ, Nhật; Mỹ là “bình vôi”) thiên về bên “có tinh thần xây dựng”. Cuộc gặp thượng đỉnh ở Hà Nội sẽ thành công với không nhiều thỏa thuận thực sự tích cực cho nhân loại. Nhưng còn chúng ta, nước chủ nhà thì sao?

THAN:
Phải nói là cuộc gặp giữa tổng thống già dơ nhưng rất chịu chơi Donald Trump và hot boy chủ tịch Kim Jong Un sẽ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng, mà như một công dân Việt Nam tôi cũng hy vọng “chủ nhà” có thể được một chút lợi ích từ việc tỏ lòng hiếu khách này (xin nhớ cho là chi phí ta bỏ ra rất nhiều đấy, chưa kể chủ nhà sau đó có tỏ vẻ kẻ cả mà tặng thêm cho Bắc Hàn quà cáp cứu trợ gì không nữa thì chờ xem!). Tôi chả trông gì vào việc du lịch tăng đột biến hay một quán rượu sochu nào ở Hà thành bỗng chốc được coi là “quán nướng Kim Un-Trump”. Cũng chả phải vị thế quốc tế của ta cứ thế mà cất cánh đâu, “mình phải như thế nào…” kia!

Quay lại câu chuyện năm 2001: mùa hè năm ấy nước Nga có cuộc đến thăm của nguyên thủ quốc gia kỳ dị nhất trong lịch sử. Từ ga Khasan (Viễn Đông) cho tới Sankt-Peterburg và quay lại chủ tịch Kim Chính Nhật (Kim Jong Il) đi bằng đoàn tàu bọc thép, cửa kính chống đạn riêng của mình, gồm 15 toa. Vốn sinh ra lớn lên ở Nga, có thể hát vo rất nhiều bài ca chiến đấu tiếng Nga nên cụ thân sinh ra chủ tịch Kim Un ngày nay đi không phải để hoài cảm hay thăm thú gì, mà chỉ để đặt vòng hoa ở lăng Lê Nin rồi bàn với Nga một việc cụ thể khá lớn lao: nối liền tuyến đường sắt xuyên Nga (Transsib) với tuyến đường sắt xuyên Korea. Cũng phải nhiều năm sau, cụ thể là từ 2008-2014 việc nối tuyến này mới được thực hiện xong (môt công ty liên đoanh được thành lập với 70% thuộc về phía Nga) . Đáng nhẽ giữa 2 miền của Korea việc này cũng phải thực hiện nốt mới đủ và đúng ý đồ, thì 2016 Bắc Triều lại thử vũ khí hạt nhân, làm Nam Hàn rất “quan ngại” và rút ra khỏi chương trình này. Và thế là loay hoay mãi đến 05/9/2018 chuyến tàu đầu tiên chờ hàng hóa từ Khasan (Nga) mới chạy sang được Bắc Triều, tới cảng Radgin. Một địa danh có lẽ trừ người trong ngành thì ít ai để ý, nó gắn liền với Đặc khu kinh tế Radjin-Sonbong – đặc khu kinh tế được mở 1991 bởi TQ và Bắc Triều Tiên, mục tiêu là thu hút đầu tư nước ngoài của TQ và Nga. Ngoài Radjin thì đặc khu Rason này còn 2 cảng nữa, và Radjin có 3 cầu tàu thì hiện nay 2 cầu tàu do TQ thuê dài hạn, còn một của Nga dùng. Tình hình quốc tế không thuận lợi để đặc khu phát triển nhảy vọt, nhưng nếu thay đổi đi thì biết đâu… và một mặt hàng đầu tiên người ta nghĩ tới, đó là than.

Phải nói rằng than chả đâu nhiều bằng ở Nga, chứ 2 miền bắc nam Korea đều thiếu, Nhật thiếu, TQ phía bắc cũng có kha khá (thỉnh thoảng ta lại nghe tin sập lò mấy chục công nhân chết, nó đấy!) nhưng miền nam TQ thiếu to, nhìn tổng thể với nền công nghiệp lớn mạnh như của TQ thì thiếu than (ta cứ bảo TQ mua than tốt của ta, bán than xấu… là chủ đề khác nhé, kẻ mạnh có lựa chọn thôi!). Còn Việt Nam ta thì sao? Xin thưa rằng đang thiếu năng lượng trầm trọng lắm, hạt nhân thì “tự thiến” rồi, thủy điện thì hầu như đã hết công suất và đang hạn chế, đừng hy vọng điện gió và năng lượng mặt trời có thể thay thế được sớm vì đấy đang là cơ chế bao cấp, điện chạy từ LNG thì nguyên liệu ta cũng phải nhập, vậy thì còn gì đây: các nhà máy điện than! Bài này không bàn đến tác hại của công nghệ TQ – “người ta bỏ hết đi rồi mình lại đem về dùng” – hay tác động xấu tới môi trường của chúng, mà chỉ đề cập vấn đề: 21 nhà máy nhiệt điện than hôm nay và 65 nhà máy vào năm 2030 thì lấy đâu ra than? Việt Nam đang cạn kiệt về than thì khỏi bàn cãi rồi, than với tất cả các cấp độ chất lượng đều thiếu to! Và cứ mỗi năm con số tiêu thụ than tăng thêm ít nhất là 1 triệu tấn!
“Trời sinh voi, trời sinh cỏ” – nhiều bạn sẽ nghĩ vậy, đúng thôi. Hiện nay vẫn có thể túc tắc mua được than của Indonexia, nhưng phụ thuộc về năng lượng vào một nước Hồi giáo, nước đó không sớm thì muộn lại chịu ảnh hưởng của ông anh TQ thì sẽ thiệt đơn thiệt kép. Chỉ còn cách mở hướng Nga thôi, nhưng… cấm vận! Mà USA không chỉ cấm vận Nga, còn Bắc Hàn thì luôn trong “danh sách đen” rồi, thế thì than hay hàng hóa gì chăng nữa từ Nga (sắt thép chẳng hạn) còn ai dám mua, trừ ông kễnh không sợ Mỹ là TQ. Chẳng hạn công ty của VN muốn mua than từ Nga thì thanh toán thế nào được khi Mỹ cấm vận?

(Nhiều bạn sẽ thắc mắc, nếu đã tránh được cấm vận thì mua thẳng than qua vô số cảng ở Viễn Đông-Nga chứ việc gì phải đi qua đường Radjin cho “Mỹ nó ghét thêm”- vì quả là không thể dấu được đâu, nếu ai chịu khó Google nhìn kỹ thì cũng sẽ thấy 3 cầu cảng Radjin ấy đang có mấy tàu bốc than lên, và sau đó chúng chở đi đâu tiếp. Nguyên nhân thì có lẽ phải ai ở Nga rồi mới hiểu, thế nào là “con nhà lính tính nhà quan” và chi phí dịch vụ ở đây có lẽ phải sánh được với Monaco hay Zurich (tất nhiên trong đó một thành phần rất lớn là tiền tham nhũng và maphia). Chẳng hạn có những lúc giá thành để khai thác than từ dưới tầng đất sâu hàng trăm mét lên trên ở Nga chi phí chỉ hết 11 $, thế nhưng chi phí bốc chính tấn than đó từ cảng Viễn Đông lên tàu là 20$! Nếu ở Radjin thì có lẽ chi phí chỉ bằng 1/5. Chắc là không còn thắc mắc về con đường Bắc Triều Tiên nữa nhỉ?).

Radjin và khu Rason có cái hay, là cấm vận của Mỹ đối với Bắc Hàn không ảnh hưởng đến. Tức là Mỹ cũng “để cửa” cho Bắc Hàn với TQ, Nga cộng tác phần nào, chứ dồn một dân tộc khá cuồng tín đến đường cùng có lẽ là hạ sách. Vậy nên tôi có hy vọng không nhỏ, rằng nếu mấy ngày sắp tới khí hậu Hà Nội đẹp và sao trời được xếp vào những vị trí thích hợp, thì cuộc gặp thượng đỉnh giữa Kim và Trump sẽ thành công phần nào. Dễ hiểu việc con đường sắt xuyên châu Âu qua cả miền đất Triều Tiên là tâm huyết của người cha quá cố, Kim Jong Il bằng mọi cách sẽ phải tiếp nối, nhất là mất công đi tàu hỏa 4500 km đến Hà Nội rồi lại từng ấy km quay về. Còn một người rất khó đoán trước như tổng thống Trump, tôi xin liều dự đoán rằng trong không nhiều những thỏa thuận sẽ đạt được, 2 lãnh tụ sẽ có thỏa thuận thuận lợi cho việc cung cấp than từ Nga đi qua Bắc Triều để đến với TQ và Việt Nam trong thời gian tới. Bởi tôi cảm nhận được trong thâm tâm ông ta quý Việt Nam, còn thực ra Việt Nam cũng có nhiều người quý trọng ông mà, ví dụ như tôi… Hy vọng!


GHI CHÚ:

-Thực vật ở đây được bảo tồn tốt và khá phong phú! Ai mà nghiện truyện “chưởng” chắc phải nhớ loại tuyết sâm ngàn năm vô cùng quý báu ở núi Trường Bạch. Có thể xem cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ở Paektusan:
http://geobotany.narod.ru/arc08.htm

-ngọn núi lửa rất dễ bị “kích hoạt” bởi nhiều nguyên nhân do con người gây ra: https://youtu.be/TSJddAaQO3c

-3 thế hệ lãnh tụ của Bắc Triều Tiên đều thích đi tàu hỏa hơn máy bay. Truyền thống này bắt đầu từ khi Stalin tặng cho Kim Nhật Thành một đoàn tàu sang trọng…
https://www.bild.de/…/trump-und-kim-gipfel-in-hanoi-im-luxu…

(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2201247079937217)

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN – P.3

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN 2 222- P.1

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN – P.3

(Tiếp theo của: https://www.facebook.com/namhhn/posts/1778417212220208
https://www.facebook.com/namhhn/posts/1779492792112650 )

Bắn chim cũng là một thú vui của dân ở đây, nhưng nếu theo đúng luật lệ thì cũng cách rách ra phết: phải có giấy phép bắn chim, phải có súng được đăng ký (nhưng lại không được có nòng rãnh xoắn!?), mùa chim đẻ trứng không được bắn, không được dùng thiết bị tạo ra âm thanh như chím hót để làm “chim mồi”, không được dùng chó để lùa chim (cái này khác với những tưởng tượng của tôi khi hồi bé đọc các mẩu chuyện săn vịt trời bên xứ Pháp đấy nhé!)… Mùa xuân có nhiều loại chim bay về Viễn Đông, đầu tiên phải kể đến ngỗng trời, chúng bay về từ Hàn Quốc và Trung Quốc (chim là loài “tị nạn thời tiết” mà), sau đó lục tục các loài khác… Lạ thay có những loài chim như cò trắng chim én… bay trú đông đến 10000 km, nhưng lại chả có loài nào từ Nga bay về Việt Nam trú cả, chúng bay thậm chí đến tận Nam Phi! Có lẽ đất lành thì chim mới bay…


Dân ở đây hay đi săn thú hơn, có lẽ thu nhập cũng tốt hơn chim. Đầu xuân thế này đừng ai dại đánh thức gấu nhé, chúng hung dữ nhất trong các loài thú ở đây (trông rừng rất lưa thưa nhưng hóa ra vẫn còn nhiều thú lắm, chỉ có hổ Ussuriysk thì bị dân Tàu đặt hàng nhiều quá, thành ra khá hiếm! Thời này Trung Quốc vẫn chỉ bắn hổ lấy da, còn xương để nấu cao là mấy quân “cộng” nhà mình mua cái phần còn lại thôi! Tàu còn thích tay gấu (chân trước) hơn hổ nhiều…). Muốn đi săn hổ hay gấu dân Nga đi sâu vào rừng taiga, thường là phải đi bằng xe quân sự chứ Land Cruiser hay Nissan Patrol vào đó cũng vứt. Xem mấy chú Nga chuẩn bị đồ đi săn mà hãi, như đi đánh trận, ngoài lương thực đầy đủ ra trung bình mỗi đầu người một két vodka – cuộc đi kéo dài vài ngày, chả hiếm chuyện có những người lạc ở trong đó không tìm được đường quay lại! Thấy tôi có vẻ “hoảng” kiểu săn bắn này, dân “bản xứ” dẫn cho đi săn lợn rừng, đây là kiểu săn dành cho dân du lịch, nhẹ nhàng nhất có thể. Đó là ban đêm lôi nhau vào rừng, có những cái chòi làm sẵn ở trên cây, tây cho tôi và một chiến sĩ nữa trèo lên đấy, còn họ đi “lùa” tức là đánh động cho lợn rừng chạy qua chỗ chúng tôi phục kích. Người đi cùng phải có nhiệm vụ soi đèn cho tôi bắn, họ có những quy tắc riêng để khỏi bắn nhầm vào nhau và lùa lợn nhất định chạy qua đường đã định… Tuy vậy kết quả săn bắn của tôi là số không tròn trĩnh, căn bản là say rượu quá ngủ gật, chả kịp làm gì khi lợn chạy rầm rập qua. Thế là bà mẹ vợ của chú em kia bảo mấy đứa con dẫn chúng tôi đi thăm núi thiêng vậy…


“Korea (gọi thế cho đỡ lằng nhằng Hàn Quốc với Triều Tiên) có lịch sử chính thống độ hơn 3000 năm – còn ta 4000 năm, có lẽ ta là “anh”!? Nhưng tên gọi Korea thực sự xuất hiện độ khoảng năm 918 bắt nguồn từ tên một trong ba nước thực sự tồn tại trên bán đảo Triều Tiên lúc đó. Ta hãy nhớ lại rằng khoảng năm 969 thì núi lửa Paektusan hoạt động, gây hệ lụy đến một vùng vô cùng rộng lớn, đến mức sau đó vương quốc Bột Hải bị xóa sổ, còn trong khoảng một thế kỷ rưỡi lịch sử gần như bị xóa nhòa, sau đó mới xuất hiện nước Triều Tiên thống nhất rồi năm 1392 họ mới dời đô về Seoul (Hán Thành)”. Đấy là sử sách chính thống của cả hai miền nam bắc Triều Tiên bây giờ đều nói vậy, nhưng lịch sử đất nước này thì không một công dân nào của cả 2 miền không thuộc nằm lòng:

“Đàn Quân (Tangun) là đức vua đã sáng lập nên quốc gia Vương Kiện Triều Tiên. Ông nội của Ngài là đức vua trên trời Hoàn Nhân, Ngài đã hạ giới và thấy vùng núi Trường Bạch là nơi thích hợp để phát triển loài người, Ngài đã cho con thứ của mình là Hoàn Hùng xuống núi Trường Bạch cùng ba nghìn cận vệ, rồi cho kết hôn với một con gấu cái đã hóa thành đàn bà có tên Hùng Nữ mới sinh ra Đàn Quân – vị vua đầu tiên của dân tộ Triều Tiên. Thủ đô đầu tiên là Bình Nhưỡng, Đàn Quân chỉ nhường ngôi sau 1500 năm trị vì, khi đã 1908 tuổi…”

Khá khập khiễng, khó tin và những con số “trời ơi” – các bạn cũng nghĩ như tôi lúc đầu vậy. Thế mà không đâu, tuy những người con dân gốc Triều ở CCCP tất nhiên chả bao giờ được học những điều này, nhưng ở cả 2 miền Triều Tiên học sinh được giảng rất kỹ về câu chuyện này, thậm chí cái năm 2333 trước Công nguyên được chỉ ra như thời điểm khai quốc – thế là Triều Tiên lại thành “anh” của Việt Nam rồi nhé, và câu chuyện Đàn Quân này có lẽ còn dễ chấp nhận hơn chuyện “đẻ trăm trứng” và “18 đời vua Hùng” của ta. Nhưng lạ hơn hết, là những năm gần đây thì câu chuyện này được dạy trong các trường học của Hàn Quốc không như “truyền thuyết” nữa, mà là câu chuyện chính sử! Quả là lịch sử là môn khoa học khó hiểu nhất rồi! Nhưng có một điều là mọi câu chuyện đều xoay quanh núi Trường Bạch – chính là cái ngọn núi lửa đã làm lụi tàn cả một vương quốc Bột Hải, đã đẩy lùi lịch sử dân triều Tiên cả trăm năm. Nhưng nó vẫn là ngọn núi gốc gác, thiêng liêng nhất của người Triều Tiên, đến mức mà khi lịch sử CCCP ghi rõ là Kim Nhật Thành – tức là Kim “ông”- sinh ra Kim “bố” ở vùng Khabarovsk (CCCP) khi đang tham gia Hồng quân ở đó, thì lịch sử Bắc Triều Tiên ghi rằng chủ tịch Kim ra đời (tất nhiên phải vào một ngày trời đất rạng ngời, chim hót hoa nở tưng bừng…) trên ngọn núi thiêng Paektu, tất nhiên chỗ ông sinh ra thiêng liêng lắm, ngay cạnh hồ Thiên Trì – Sky Lake (Tianchi) – hãy ghi nhớ địa danh này nữa nhé! Khi đó theo như sử sách Bắc Triều thì Kim “ông” đang lãnh đạo phong trào du kích chuẩn bị giải phóng Triều Tiên… ”.


Chúng tôi đi không xa lắm về phía cửa khẩu Kraskino, khu vực có tên Khasan – cái tên nghe đã không thuần Nga lắm. Khasan thực ra là một cái ga tàu hỏa và một cái cửa khẩu đường biên ô tô – và giữa hai điểm đó là một cái làng nhỏ mà dân cư chính là những người làm việc tại đây. Cũng lại có một chiếc cầu đường sắt đi sang Bắc Triều Tiên, mà nghe đâu lâu lâu mới có một chuyến hàng gì không biết. Có biển, có cảng cho tàu trọng tải vừa, chủ yếu chở sắt thép. Nơi đây là địa đầu của đất nước Nga, ngã ba biên giới Nga-Trung Quốc-Bắc Triều Tiên, chả khác gì cửa khẩu Bờ Y ở nhà mình. Khu dân cư duy nhất của Nga có đường biên chung với Bắc Triều, cũng là nơi hàng đoàn tàu hỏa chở gỗ, chở cá biển từ Nga chạy sang Trung Quốc cũng như hàng lậu ào ạt sang Nga, một nơi mà “gà gáy cả ba nước đều nghe”. Cùng một tọa độ mà thời gian của Nga nhanh hơn của Trung Quốc 3 tiếng đồng hồ, nhưng vẫn chậm hơn Bắc Triều Tiên một tiếng…


Đến nơi chúng tôi đã thấy phía trước có một xe buýt du lịch dừng để khách xuống, nhìn qua đã biết là người Hàn Quốc, họ chụp ảnh tíu tít, hỏi han râm ran. Có một vọng gác quân đội, sau đấy là đường núi đi lên đỉnh, có mấy người Hàn Quốc cũng qua được barie đang hăm hở trèo lên. Cậu anh vợ thằng em đồng hương giải thích: “chúng tao nghe nói đây là điểm đầu của dãy núi Paektusan, bọn Tàu thì gọi là Bắc Đại Sơn hay Trường Bạch gì đấy, thiêng lắm, núi thiêng và hồ thần ở cách đây hơn trăm km nữa cơ, lại nằm giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc, nhưng cả dãy núi này đâu cũng thiêng hết, người Triều Tiên nào trong đời cũng phải đến đây ít nhất một lần mới được! Mà bọn Hàn Quốc thì không đi Bắc Triều được rồi, lại ghét Trung Quốc và có phải đứa nào cũng có tiền mà du lịch đâu, thế nên có điều kiện đến Viễn Đông chúng nó tự tổ chức tour tới dãy núi thần này, thế là mãn nguyện lắm rồi! Trên đỉnh núi này cũng có cái hồ, không phải hồ thần kia đâu nhưng cũng thiêng rồi, mỗi tội mùa đông đóng băng…”. Thấy phong cảnh đìu hiu, gió lạnh ào ào tôi ngại xuống xe, nhưng thằng em đồng hương lôi xuống bằng được, nó bảo bọn Hàn Quốc kia là du khách, vào vùng đất doanh trại quân đội mỗi đứa nộp trăm đô mới được lên núi đấy, nhưng anh em mình “thổ dân” mất gì mà không lên! Quả thật nó ra rỉ tai mấy chú lính Nga mấy câu, thế là anh em tôi cũng vô tư cũng vào doanh trại. Đi được một đoạn khuất, thằng đồng hương bảo tôi: “Anh em mình trèo nữa làm gì, nghe em mình tè một bãi, bọn Nga có cái tục lệ như thế, như chó sói đánh dấu địa bàn ấy, cứ tè ở đâu là thể nào cũng còn có duyên quay lại…”. Thế là chúng tôi “gửi hồn vào đất”, lạnh nên cũng khó khăn phết đấy, tôi tâm niệm là thể nào mình cũng sẽ còn lên tận nơi, núi thiêng hồ thần của dân tộc Triều Tiên cơ, chứ không phải ở đầu dãy núi thế này!

(Còn nữa)
(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/1783909418337654)


NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN – P.2

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN - P.1

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN – P.2

(Tiếp theo của: https://www.facebook.com/namhhn/posts/1778417212220208)

Phú Sỹ (Fuji) của Nhật hay núi Cả ở đền Hùng nhà ta thì ai cũng biết là núi thiêng của cả dân tộc rồi, còn dãy núi kia thì ít ai biết lắm, đã đặt chân lên thì càng ít hơn, ai google thì ra một đống thông tin, vậy thôi! Còn tôi khi đó (tức là hơn chục năm trước đây) càng không ngờ tôi “về quê” với cậu em đồng hương vợ Triều gốc Nga này lại có mảy may liên quan gì đến cái núi thiêng nào của dân Hàn. Thế mà lại có đấy…



Đầu tiên nói chuyện “chơi” ở quê. Mùa đông trời trong veo, không khí biển cực dễ chịu (gần biển thì âm nhưng khá ấm, mà chỉ đi sâu vào đất liền độ trăm cây thì lạnh thấu xương!), dân Việt cộng thì chỉ khoái được ngồi nhậu, vodka thịt nướng (nướng là truyền thống của dân Triều rồi, mùa đông lại càng ngon!) rồi tán chuyện, nhất là chuyện xe ô tô Nhật có mà nói cả ngày không hết – thế nhưng họ đằng vợ ông em lo là mấy đứa Việt Nam “buồn” – và với tính hiếu khách có gì hay nhất, tốt nhất, độc đáo nhất thì phải mời khách ngay! Gặp đúng dân gốc Triều năng động ngồi yên với chúng nó chả được, đành lạo dạo đi theo chúng nó để “chơi”. Đầu tiên là cái món trẻ con người lớn gì cũng biết là trượt tuyết – thích thì xách gậy vào rừng trượt tha hồ, có chỗ dốc thoải cho mà phóng vun vút – thể thao lành mạnh nhất mùa đông rồi – thế nhưng dân Việt cộng vừa lười vừa sợ ngã, thôi! Ngồi nhà tá lả ấm áp hơn, chứ đi câu cá trên băng như bọn Nga lạnh lắm… Có những chõ lắm cá cả mấy trăm người ngồi trên mặt bang để câu, muốn đục lỗ thả cần xuống phải khoan, có đứa còn mang cả bếp ga để đun chè… Nhưng ra một chốc thì được, chứ ngồi cả ngày cả buổi như tây thì tôi ái ngại lắm, đầu óc cứ bị ám ảnh bởi những chuyện băng mỏng nứt ra rơi tòm xuống đấy, có đứa còn lạnh quá chui vào ô tô ngủ rồi băng vỡ, cả ô tô rơi xuống nước, mấy ngày sau mới cẩu xe lên được, khiếp lắm! Dân Nga gốc Triều bảo rằng đi biển xa đánh cá thì họ không thạo bằng dân Nga được (thạo làm sao được khi mới mò từ vùng sa mạc Trung Á về đây!) nhưng bắt các con gần bờ để đem bán thì họ thạo và chăm hơn nhiều, tiêu thụ thì đã có Tàu bên kia biên giới rồi! Đấy là hải sâm (Nga gọi là “dưa chuột biển”), nhím biển (hay “cầu gai” như ta gọi), tu hài, mực, cua, mấy loại cá… Trồng lúa hay hoa màu bây giờ không còn lợi ích nhiều nữa, bởi vì để đủ ăn thì được, chứ bán đi đâu trong cả cái nước Nga mênh mông này khó lắm, chết tiền vận chuyển, rồi biết bao nhiêu khê, thế nên dân gốc Triều chuyển sang “đánh bắt”. Một nghề nữa mà vì nhiều người làm quá nên “hết hàng” – đó là nghề đi tìm sâm. Nghe đến sâm là người Việt vểnh tai lên ngay, tôi cũng tò mò hỏi kỹ, thì ra sâm có nhiều loại lắm, quan trọng là sâm nào ở núi nào thôi! Hóa ra sâm ở Primorye vùng Viễn Đông này rất nổi tiếng, tương đương với một loại sâm được gắn với tên khoa học hẳn hoi là “Sâm núi Hàn Quốc” (Korean Mountain Gingsel – cứ nói tên này là các chuyên gia biết ngay sâm có những đặc tính gì!). Người nào tìm được củ sâm Primorye thì có bọn thu mua ngay (giá thời đó 15 $/gram), nhưng bọn Nga bảo sâm của chúng nó mới là “xịn”, là “sâm núi” thật, loại này tương đương với sâm Bắc Triều Tiên cơ, còn sâm Nam Hàn thì dù có mọc trong thiên nhiên cũng là “đàn em”, còn loại trồng nhiều như rau thì chả kể làm gì! Hóa ra là vì cái dãy núi! (Sau này tôi liên tưởng mới hiểu, sâm Ngọc Linh phải mọc ở đúng cái núi Ngọc Linh ấy mới tốt được, ngoài bắc có sâm Mường La trông chả khác gì nhưng ở Điện Biên, Lai Châu nên giá kém bốn năm lần cũng có lý). Câu chuyện được nghe kể từ mẹ vợ ông đồng hương, một số người gốc Triều nữa và tự tìm hiểu lọ mọ, xin nói ngay là nó không phải sử, đến tầm “dã sử” có khi cũng không được đâu, nhưng tôi hiểu thế nào cố gắng diễn giải thôi…


«… Bắt đầu đặt chân về Viễn Đông tôi đã thấy là lạ, có nhiều khách sạn, quán xá, toàn vị trí đẹp và sang trọng lấy tên “Bò-khai” (Бохай) – đều của người Tàu sang đầu tư, lại thấy cả một vùng biển lớn cũng mang tên này. Rồi sang Trung Quốc, Korea cũng thấy nhiều khách sạn, thậm chí trường đại học mang tên “Bohay”, chứ không phải chỗ nào cũng lấy tên “Sino” hay “Arirang” đâu – hóa ra có hẳn một vương quốc, một thời đại mang tên “Bột Hải” – một cái tên Hán Việt tôi không chịu trách nhiệm đâu nhé, nghe chả ra làm sao! Địa lý thì nó nằm ở vùng Primorye (Viễn Đông – Nga ngày nay) – Mãn Châu Lý (TQ) – Bắc Triều Tiên. Một thế đất rất đẹp hình cánh dơi, dân rất thạo việc trồng trọt, thủ công – tất nhiên thời đấy ở đây không có dân gốc Nga rồi, còn dân “Trung Quốc” như ta hiểu thì ở phía dưới họ. Chả ai biết lịch sử của họ bắt đầu từ bao giờ, nhưng thời thịnh vượng có thể coi là thế kỷ thứ 7-8. Họ không nổi tiếng hiếu chiến nhưng đã từng đánh cả nhà Đường, đã lập liên minh với Nhật Bản để đánh cả mấy nước khác, và văn hóa của họ phát triển so với thời đó có thể coi là rực rỡ. Thế rồi đến thế kỷ 10, cũng chả ai chắc năm nào nữa, thì núi lửa Paektusan (Paektu Mouitain) – hay người Việt ta lại dùng tên Hán Việt mà gọi rằng Trường Bạch – hoạt động dữ dội, kèm theo hệ lụy khủng khiếp cho cả một vùng cực rộng lớn, đó là khoảng năm 969 nhưng có thể sai đi đôi chục năm. Có thể nói đại nạn núi lửa đó làm điêu tàn cả một quốc gia đang hưng thịnh, sau đó Bột Hải không bao giờ hồi phục được nữa và nghe nói bị tộc Khiết Đan đánh tan…”

Thấy tôi đang hiểu nhầm là “Bò-khai” trước kia chính là tiên tổ của dân Triều Tiên gia chủ lập tức bảo tôi đừng hiểu nhầm thế, dân tộc Triều Tiên chúng tôi gốc rễ sâu xa còn cổ hơn thế nhiều cơ, nhưng đúng là nơi chúng ta đang ngồi đây chính là đất Bột Hải khi xưa đấy! Và oái oăm nữa là cái núi lửa Trường Bạch thiêu hủy cơ đồ nước Bột Hải lại chính là núi thiêng của cả dân tộc Triều Tiên chúng tôi cơ, mà không những thế người Trung Quốc cũng bao đời nay coi nó là núi thiêng của dân họ. Thế nên khách quý cứ nghỉ ngơi đi, rồi tìm hiểu tiếp lịch sử Triều Tiên, còn rất nhiều cái đan chéo vào nhau và không rõ ràng, cũng chả giải thích thông suốt được đâu. Còn núi thiêng thì là cả dãy núi cơ, và nó bắt đầu từ đây này (thế cho nên “sâm núi” ở đây mới quý!) – không phải vô cớ mà người Nga gốc Triều chúng tôi cứ sống loanh quanh ở cái vùng “ngã ba biên giới” này đâu! Gia chủ bảo họ bận dẫn khách đi săn vài hôm, tôi thích thì xin mời, còn sau đó sẽ có người dẫn tôi lên xem cái dãy núi thiêng…

Cậu em đồng hương dẫn tôi về “quê” chơi hóa ra còn có việc nữa – nó tha thiết bảo tôi phải giúp bằng được! Số là đúng dịp mẹ vợ hắn “thượng thọ” 60 tuổi, con cái sẽ tổ chức một lễ mừng đúng truyền thống Hàn Quốc cho bà ấy – tôi phải đại diện họ nhà ông con rể này! “Không phải quà cáp gì đâu, anh cứ làm đúng bổn phận thay mặt phụ huynh nhà em thế là được, mấy năm nay em chưa nhờ được ai phụ trách hộ việc này nên cứ áy này với nhà vợ quá…!” Bà mẹ vợ 60 nhưng còn khỏe lắm, và khá thân với rất nhiều người Việt bạn bè con rể bà. Vẫn một mình lái xe bán tải chở hàng đi giao hàng trăm km, vẫn nay đây mai đó giúp đỡ các cháu đúng phong cách người bà châu Á. Thôi thì tôi cứ nhắm mắt đưa chân…


Gia đình thuê một quán ăn trang trí tất cả theo kiểu Hàn Quốc, mời cả họ hàng xa gần tới cũng hơn tram người. Phụ nữ toàn bộ ăn mặc kiểu váy dân tộc Hàn Quốc, kể cả những cháu bé gái. Đặc biệt họ hàng có những người ở xa hàng nghìn km, có cả họ hàng bên kia biên giới Nga-Trung (họ mới tìm lại được nhau vài năm gần đây thôi, rất cảm động, tuy họ trao đổi với nhau khá khó khăn bởi vì cùng không biết ngôn ngữ Korea! Ngôn ngữ trao đổi vẫn là tiếng Nga, mặc dù có một số bài hát, điệu múa đúng kiểu truyền thống Cao Ly. Thế rồi thời điểm chúc thọ, chúc phúc bà mẹ đã tới. Bà ăn mặc rất đẹp, tất nhiên vẫn váy áo truyền thống, ngồi riêng sau một cái bàn trang trí hoa lá rất đẹp, rồi sau bàn đó chỉ được mời đại diện lớn nhất của các gia đình thông gia – và tôi lúc đó mới bốn chục tuổi ranh cũng ngồi lên đó để tất cả từng người lên một chúc phúc. Ban nhạc chơi điệu nhạc chúc phúc và người lên chúc phải múa một bài mới đi được đến bàn của người “thượng thọ” – và chỉ có 5-10 giây ấy thôi người lên chúc phải thực hiện những bước chân, múa tay, đi cong cong… rất đẹp nhưng khó tả, để đi lên. Sau khi chúc phúc chính chủ người đó còn phải uống chúc mừng tất cả các vị “đại diện” ngồi sau chiếc bàn! Khỏi nói là tôi đã phải khôn khéo lắm, kiềm chế lắm rồi nhưng vẫn say một cuộc để đời! Cả đêm bất tỉnh, tôi chỉ mơ mơ màng màng đến một ngọn núi đỉnh trắng xóa, nơi mà người gốc gác Triều Tiên bất kỳ nào cũng bắt buộc đều biết – núi Paektu bạc đầu…

(Còn nữa)
(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/1779492792112650)