Peter Drucker’s Best Advices

What gets measured gets managed.”

“The purpose of a business is to create a customer, that is done through marketing and innovation, everything else is a cost.”

In order to be effective an individual should ask their superior “how can I help you?” Much time is wasted because this question is never asked.

“The only profit center is the customer.”

“Companies should not ask: did we increase our profits this year, but did we increase our share of the customers heart and mind this year?”

Corporations explanation to the public of profit being their reason for existence is no more justified they say bigotry. However, without profit the corporation can not exist to serve the customer.

“Outside a corporation are only results, inside are only costs.”

“There is no irrational customer, only irrational companies.”

“Some companies try to justify a higher price to the customer because of their higher costs, that is not value, that is incompetence.”

“Time is the scarcest resource, unless it is managed, nothing else can be managed.”

“Results must be measurable.”

“Building around mission and long term goals is the only way to integrate shorter term interests.”

“The best way to predict the future is to create it.”

Two things I learned from the Effective Executive that I recommend frequently (and do myself all the time):

1. Take a lot of time on personnel decisions. Don’t be quick to hire or fire; think on it, sleep on it, talk about it, and only decide when you’ve given it the amount of time the decision demands.

2. Track your time. Be brutal and honest and look at how you’re actually spending every minute of your time. You should do this at least one full week out of every quarter, and you should get your employees to do it as well.

(1) Do you think that if you start a business, it should run by itself without your help?
Well, since Robert Kiyosaki’s book become popular, many people think they can start a business, let other people do it, and take profits. Well, in some cases, it happens. But if you want to build a company that last, it is a really wrong way to do it. In his 1973 book, Peter Drucker wrote a whole chapter about the task of Top-Management. It is very different from other task, but it ụ requires a lot of effort, far from “delegating the work to someone else”.

(2) Do you think that people work better if they are highly controlled?
No. People work better if the are autonomy supported. Peter Drucker coined the term “Management by Objectives and Self-Control”. The idea of this MBO is employee should be driven by objectives (not incentives), while employer give more autonomy to knowledge workers. In psychology (especially in SDT, Self-Determination Theory), a lot researches confirmed that people work better if they are in an autonomy supported environment.

(3) What is the purpose of the business?
If you think it is an institution to make profits, then (according to Peter Drucker) you are wrong. Profit is a necessary condition for the company to sustain and continue what they are doing, not the other way around. It is best described by Walt Disney’s quote, “We don’t make movies because want to make more profits. We make profits so we can make more movies”.

…and probably many others.

responsibility is to serve its customers. You have to look at the context, in a perfect world, not this BIZZARRO” world, in order for a company to serve it’s customers, it has to have products customers want. If it doesn’t, it’s not serving the customer. Profits are derived from revenues, minus expenses. The revenue brings in financial resources to fund the creation of products and services. The company has to operate, get raw materials and process them to finished good. All those activities are costs. When the costs are below the revenues, profits are derived. is not the primary goal, but rather an essential condition for the company’s continued existence. Is this true?
Profits are for stakeholders, they invest in the company and the investor needs to see the company keep making profits with new and improved products and services that customers demands. Profits are not bad, they are part of the cycle of business that sustains an enterprise.MBA, greedy executives and people with TI graphing calculators and do what if analysis up the ying yang are the ones that are looking for ways to derive more.

The knowledge worker cannot be supervised closely or in detail. He can only be helped. – Peter Drucker

CÁM DỖ DÀNH CHO “NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ”

Vợ chồng ông bà Jef-Ann tại Việt Nam

CÁM DỖ DÀNH CHO “NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ”

(tiếp theo Sự thật về Tập đoàn may mặc)



Có nhẽ gần hai chục năm tôi mới quay lại thành phố Thái Bình, mặc dù rất gần Hà Nội và đường xá bây giờ tốt hơn nhiều, xưa còn phải chờ phà. Thành phố thay đổi đến khó mà nhận ra, cũng giống với hàng chục thành phố khác, có một khu “Vincom” hào nhoáng chả khác gì Vinh, Thanh Hóa hay Hòn Gai… Có bảo tàng với một thảm cỏ đắng trước cũng mênh mang chả kém gì Ba Đình, có những khu đô thị quy hoạch mới, đường đôi chả khác gì Mỹ Đình hay Hà Đông… Ngồi nhâm nhi món cá kho tương truyền thống ở Quán Cá Ven Sông, tôi khen ông bạn quê hương “năm tấn” là thành phố rất nhiều cây xanh, tôi đi qua mấy chỗ gần đây thôi mà thấy xanh um tùm, như công viên nhưng không lẽ lắm công viên thế, hay là cái gì vậy? Cậu “thổ dân” đoán ra ngay, giải thích đó không phải vườn hoa công viên gì hết, mà là các nhà máy may đấy, Thái Bình đang có những nhà máy may đẹp nhất Việt Nam. Tò mò quá, tôi mới hỏi nhà máy to thì cũng không phải chuyện lạ, Thái Bình vốn dĩ là đất của nhiều triệu phú lắm, nhưng lại đẹp như công viên và giống nhau đến thế thì quả là khó hiểu, tôi đi cũng nhiều mạn Hải Phòng với Bình Dương thăm quan biết bao nhà máy rồi mà ít khi được như thế. “Tất nhiên là có lý do…!” ông bạn úp mở và bảo cứ ăn xong đi rồi dẫn tôi đi xem lại, thích vào cả trong xem thì xin mời!

Tôi nghĩ mấy cái nhà máy này giống resort hơn, với lượng cây có lẽ còn mật độ nhiều hơn cả Ecopark, có cả những phòng tập thể hình to hiện đại như Cali cho anh chị em công nhân tập luyện, rồi nhà ăn tập thể thì các trường đại học ở thủ đô còn phải thua xa! Lập tức hiểu rằng chủ không phải người Việt (người Việt ông chủ bao giờ cũng có cái phòng giám đốc to vật vưỡng, bàn ghế gỗ quý, cây cảnh tỉa tót khoe tiền tỷ, với cái phòng thờ hoành tráng lắm, nhưng tất cả các chỗ còn lại thì… vẫn như mọi khi!). Nhưng lạ cái rằng ngay các nhà máy theo tên thì của 2 tập đoàn khác hẳn nhau nhưng giống nhau đến cả cái logo, cả cái gam màu đỏ sậm, cả cách bài trí nhà máy, mà cùng là may đồ thể thao gia công xuất khẩu cả, số lượng công nhân đông lắm! Cậu bạn giải thích: “câu chuyện này cả tỉnh đều biết, tất nhiên là không phải ai cũng hiểu chân tơ kẽ tóc đâu, nhưng nó diễn ra công khai trước bàn dân thiên hạ, hàng mười mấy ngàn công nhân… nên chả phải bí mật gì ghê gớm. Có ông tây là chủ một tập đoàn may mặc với 8 nhà máy chủ yếu ở Thái Bình và Nam Định, thế rồi một ngày đẹp trời tất cả lại biến thành tài sản của tay Ph. – người Việt, vốn là nhân viên của ông tây nọ. Thế rồi đàm phán chia chác làm sao chả rõ, nhưng rồi chia nhau, mỗi “bên” 4 nhà máy, từ đó ở Thái Bình có 2 tập đoàn may gia công lớn lắm cùng đứng tên chữ M cạnh tranh nhau quyết liệt! Một bên là của thằng Ph với cái G. người tỉnh này, thế mà cứ có tin đồn lao xao là đằng sau nhiều “sếp” đứng lắm, ai chứ doanh nghiệp như bọn tôi quá biết là ủng hộ thì có thể, chứ chả có “sếp” nào ném tiền vào cái ngành may mặc này, đơn giản là suốt ngày bị kiểm toán quốc tế, có “sếp” nào muốn bị kiểm toán đâu? Bên kia là ông tây người Úc, sống ở Hà Nội đã mấy chục năm rồi, ngành may ai cũng biết…”



Quá tò mò về câu chuyện Thái Bình này, cũng xin nói là tôi có làm công việc tư vấn đầu tư cho người nước ngoài một số năm trước kia nên cũng phần nào đoán ra được vấn đề. Trở về Hà Nội tôi không khó gì để được bên ngoại giao làm quen với nhân vật người Úc này – ông Nicholas Stokes (hay thường gọi là ông Jef) – một người đàn ông đã đứng tuôi, cao gầy, tự giới thiệu là đã ăn chạy từ lâu nhưng vẫn chưa bỏ được thuốc lá và rượu vang, rất cởi mở đúng với phong cách người Úc. Khi tôi hỏi về câu chuyện “2 chữ M” ông chưa kể lể gì cả, mà bật cho tôi xem một bộ phim phóng sự, bộ phim rất dài nói về việc hình thành 2 tập đoàn may mặc này. Một bộ phim mà theo Jef thì ông đã đầu tư để quay chủ yếu để cho ông ta xem, chứ ít ai được xem lắm – ông sẽ xem nó nhiều lần nữa, xem mãi để nhớ đến những đứa học trò người Việt của ông, đến một đứa học trò tên Ph, đã được tin tưởng yêu quý nhất, rồi đã cướp hết tài sản của ông, ông đau đớn vì sự phản bội một thì đau đớn gấp mười vì không chỉ mình Ph phản bội, mà gần như tất cả! Ông Jef nói vậy để chúng tôi không hiểu lầm là ông oán hận gì con người Việt Nam – ngược lại đấy, ông rất yêu quý đất nước chúng ta và người Việt nói chung, nơi đây ông đã từng gây dựng được sự nghiệp, cả vợ con ông cũng đã gắn chặt với Hà Nội hơn hai chục năm trời – mặc dù càng làm ăn nhiều ở Việt Nam thì ông càng thấy sao mà khó hiểu người Việt thế, ngày càng khó hiểu hơn…

Sang đây làm ăn từ trước cả khi Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận, ông từ con số không đã xây dựng nên một tập đoàn may mặc lớn nhanh như thổi, và sau năm 2000 ông bắt đầu đầu tư vào các nhà máy ở miền bắc. Vì lúc đó luật đầu tư nước ngoài chưa rõ ràng như bây giờ nên ông đã nhờ rất nhiều nhân viên trong công ty của mình đứng tên cổ phần hộ – tất cả họ biết nhau và biết chuyện đó, mặc định hiểu là họ đều làm công ăn lương cho ông chủ Jef, còn cổ phần họ đứng tên là tài sản của ông, sau này họ sẽ chuyển trả lại cho ông. Phải nói là ít có ông chủ nào lại nhân văn và lo cho đời sống các cán bộ và công nhân của mình tốt hơn được Jef, họ đều coi ông như một người thầy, và một người cha. Trong đó có Ph. – người học trò tuy không phải vào tập đoàn sớm nhất nhưng nhanh nhẹn và được ông tin dùng nhiều nhất – đã bằng cách nào đó chuyển cổ phần của nhiều đồng nghiệp vào tên mình, điều mà ông Jef không để ý và cũng chẳng lấy thế làm điều – đó là học trò mình cơ mà! Có lẽ có một sự chuẩn bị “lật đổ” khá lâu dài và cẩn thận mà người biết cuối cùng là ông thầy này. Ông vẫn hiểu cũng như hàng ngàn cán bộ và công nhân hiểu: ông là chủ 100% của tập đoàn Maxport. Thế nhưng…



Kế toán trưởng cũ có lý do nào đó để chuyển ra nước ngoài định cư, còn công ty kiểm toán quốc tế hàng đầu vào cuối năm 2015 bỗng dưng không chịu xác nhận Jef là chủ doanh nghiệp này nữa, bởi trên thực tế giấy tờ thì cố đông lớn nhất là Ph. mới đúng. Ngày 08/4/2016 là một ngày khó quên đối với Jef và rất nhiều nhân viên hội sở chính ở Hà Nội: khi đó Jef đang vắng mặt, thì trong giờ làm việc tại văn phòng Hà Nội đổ xuống mấy xe gồm có Ph, và hơn chục nhân viên bảo vệ đi từ Thái Bình lên, đằng đằng sát khí. Lấy quyền hạn của Tồng giám đốc Ph. ra lệnh đuổi ngay và luôn cô kế toán trưởng mới, không những thế mà cấm tất cả những người có mặt trong văn phòng sử dụng đến điện thoại, lập tức niêm phong hết mọi máy móc, hệ thống quản lý doanh nghiệp, tất tật – coi như từ đấy tất thảy đều thuộc về Ph, còn ông Jef thì có lệnh cấm cửa, không được đặt chân vào cái nơi ông đã mất hai mươi năm để chăm sóc từng cái cây, viên đá – chính là cái nơi mà ông vừa chiếu cho chúng tôi xem bộ phim về mình đây.

“Tất cả đều phản ông à?” – tôi hỏi mà không mong đợi một câu trả lời tốt đẹp. “Không, có một người anh em Việt Nam duy nhất đứng tên hộ tôi 10% đã đồng ý trả lại cho tôi vô điều kiện” – Jef trả lời và tôi mới để ý, ông khá hay dùng từ “người anh em” khi nói đến những nhân viên, những học trò người Việt của mình. Và ông nói thêm không giấu được niềm tự hào: ”Rất nhiều người cũ nay vẫn làm cho tôi, còn nhiều người không theo nghề nữa nhưng chúng tôi vẫn gặp nhau thường niên để kỷ niệm, như những người anh em trong một gia đình lớn Maxport!”.

Tôi thực sự ái ngại khi doanh nhân nước ngoài nói tới việc bị những “người anh em” Việt Nam lấy đi mất 90% tài sản với một phong cách có lẽ chỉ có ở Nga những năm 90 mới tồn tại như vậy. Như hiểu được sự băn khoăn của tôi, Jef kể rằng tiếp sau đó ông với Ph chia đôi số nhà máy không phải bởi “lòng tốt” của kẻ phản bội, mà ông đã phải mua lại khá đắt 40% tài sản của chính mình. Về phía Ph, người mà từ nay ông hay gọi là “the devil brother” thì đó là nhu cầu tài chính để vận hành khối tài sản cướp được, về phía ông Jef đó là nghĩa vụ đối với khách hàng quốc tế không thể không thực hiện dù bằng bất cứ giá nào. Và thế là nảy sinh ra 2 tập đoàn may gia công hàng thể thao, cùng với logo có chữ M – ngay cái logo này cũng là thứ mà ông thầy Jef đã bị cướp trắng!

“Thế ông đã kiện cáo những đâu rồi?”. ”Tôi đã mất rất nhiều chi phí cho các luật sư, nhưng họ đã và đang đánh giá điều kiện pháp lý chưa đủ để thắng kiện”. “Đại sứ quán, bộ ngoại giao nước Úc có giúp gì ông không?”. “Họ rất biết tôi và tin vào lẽ phải của tôi, nhưng họ coi đây là quan hệ dân sự giữa tôi và một nhóm người Việt, họ chúc tôi may mắn, và tôi phải tự lo đứng lên ở chính nơi tôi đã gục ngã!”. ”Ống sẽ vẫn theo đuổi công lý chứ?”. ”Tất nhiên, tôi sẽ chiến đấu vì công lý chứ không phải là vì tiền bạc nữa, sẽ bằng những cách quân tử nhất để lấy lại những thứ vốn là mồ hôi nước mắt của tôi, không, của cả những người anh em Việt Nam của tôi nữa! Tôi muốn cho những người Việt Nam một bài học, kể cả những người anh em rất tốt của tôi, kể cả những kẻ đã làm hại tôi, không chỉ riêng Ph đâu, rằng tài sản cướp được sẽ chỉ mang tới cho họ phiền toái, nhục nhã và thất bại mà thôi… ”.

Thế là chỉ vì chuyến đi dạo chơi Thái Bình mà vô tình tôi lại được chứng kiến một câu chuyện về “người Việt xấu xí” nữa. Người ta sẽ còn quay lại mổ xẻ vấn đề này rất nhiều, và lẽ đời tôi vẫn tin rằng “thiên bất dung gian” thôi. Nếu những bạn FB của tôi đọc bài này mà có ai quen biết với những nhân vật như Ph, như cô G, anh H – những người đã là cổ đông trên giấy của doanh nghiệp lớn của ông Jef – thì xin hỏi họ một câu thôi, hoặc đề nghị họ chia sẻ bí quyết làm giàu, vì sao đang chỉ là những nhân viên quản lý bình thường ở một công ty may mặc gia công họ lại bỗng dưng sau chỉ vài năm lại có được tài sản khổng lồ mỗi người mấy chục triệu đô la như vậy? Thiên tài đầu cơ chứng khoán, gặp may khi buôn đá đỏ, bán thiên thạch hay buôn chổi đót, chạy xe ôm ngoài giờ? Mỗi người trong bọn họ sẽ có một câu chuyện rất hay và bổ ích chứ nhỉ, và nếu họ không chia sẻ cùng chúng ta, thì sẽ có người kể tiếp về cuộc phiêu lưu “làm giàu không khó” của họ đấy…

(FB Nam Nguyen)


ADIDAS and PUMA – The Rivalry of The Dassler Brothers in The Football World

0_the-dassler-brothers-1024x576

ADIDAS and PUMA – The rivalry of the Dassler brothers in the football world

Rudolf Dassler was born on March 26, 1898 in the shoe maker’s family, the third child in the family. After 2 years he has an additional brother Adolf. From a young age they loved sports and were their main competitors. Love with sports and competition are probably their life until death.

Anh em Dassler
The Dassler brothers

Dassler brother’s shoe company


Because of his love for sports, Adi Dasler had the idea of ​​opening a brand to produce sports shoes with his own nails. Thanks to the support of a nail forger, Dasler-I started his own business. Some time later brother Rudolf also joined, he was not knowledgeable about shoe production, but knew how to sell products. That is the secret of their success – one person thinks of ideas and performs, and another seeks customers and convinces them to buy products.
By 1924 they established the company: «Gebrüder Dassler» («Brothers Dassler»). Production is increasingly expanding, the first favorite product and great success came in 1928 at the Olympics in Amsterdam when several athletes competed with their shoes. And after four years in Los Angeles, the athlete who won their shoe medal – the German Arthur Jonat won the bronze medal in the 100m run. The climax for the brothers was in 1936 at the Olympics in Berlin, the athlete Jessie Owens (USA) wore their shoes and won 4 gold medals. At that time the whole world knew of Dassler brothers.

Big split

Everyone knows that both brothers are fascist. The totalitarian dictatorship accompanied by a healthy sports movement opens up great potential for Dassler’s factory. But because of World War II they had to start with shoes for soldiers, and in 1943 Rudolf was enlisted. However, he did not have to fight any time, because he obtained his position in the typing room, and in 1945 fled when the Soviet Red Army approached and was eventually arrested for desertion. On the way to the prison he was rescued by the American army but later arrested for cooperating with the Gestapo. When he was arrested, he learned that the accuser was the younger brother of Adolf.
All contradictions have been revealed until now. Rudolf told the US government that the idea of ​​making shoes for Nazis was entirely given by Adolf. American soldiers lived in the Dassler mansion for almost a year and asked them to produce ice skates for American hockey. By 1946 they had just produced sports shoes, and in 1948 Christof Dassler died – the father of two brothers and the only one who prevented them from arguing and separating the company.
So in the same small city only a few hundred meters apart there are two extremely hostile sports shoe factories – Addas and Ruda. That’s right, no wrong writing.

The magic in Bern

After a few months Rudolf gave up the idea of ​​using his name in the company name and changed it to Puma. And Adi decided to add one more word and added a line to the logo. When their competition spread, the city split into two camps.
But the fame of the two brothers is much greater than that small city. The Dassler brothers resumed their association with the Sports and Olympic Committees of the countries, after they were interrupted by the war. They always compete with each other, leading to the fact that the whole world cannot have better shoes than Adidas and Puma. In 1952 the Dassler brothers made a major turning point when they provided the West German football league with replaceable nails. But before the World Cup 1954 Adi Dassler made a deal with the German team to provide the most modern shoes of that time. And thanks to that, there was a bigger place in history than Rudi.
In the finals of the German team met «golden generation» Hungary with the great Ferenc Puskas. In the group stage Hungary destroyed Germany 8: 3 and everyone thought the championship was definitely in the hands of Hungary. The first half ended with a score of 2: 2. At the start of the second half, the sky poured heavy rain and Adolf immediately changed the players to shoes with longer nails. Thanks to that, the German team had more flexibility and the 84th minute scored the winning goal. That battle went into history with the name «The magic in Bern».
After the victory, Adi had the idea of ​​placing an advertisement right on the stadium. In 1956 he agreed with the Olympic committee on adidas advertising at the Olympics at Melburn. So the younger brother was far ahead of him, but Rudolf did not give up. In 1958 Puma celebrated his victory over Brazil, while Rudi seized the opportunity and sued the slogan “Adidas – the best sports shoes in the world!”. And won the lawsuit.

Agreement with Pele

Although they hate each other, in order to avoid price increases in the advertising market, the sons of Rudolf and Adolf – Armin and Horst – who have an agreement with each other, will not sign the best players in the world. But having an agreement does not mean following. The South American market is very potential for two brothers. In 1970 a few months before the World Cup, Armin Dassler hired a consultant to Rio de Janeiro, to persuade South American players that they would play twice as well when going to Puma shoes. The king of football fell into a dilemma: Puma opened a wide marketing strategy but did not contact him. Then Pele’s representative gave a contract form to Armin Dassler.
Puma paid Pele for him to start tying his shoelaces right away in the yard before the game began, so everyone could see the football king walking Puma shoes:

Horst Dassler was extremely frustrated to know that. The battle between fathers became the war of children.

ADIDAS và PUMA Pele
ADIDAS và PUMA Pele

End the story

Rudolf Dassler died in 1974 at the age of 76 because of lung cancer. According to rumors, in the early 70s 2 brothers secretly met several times, but Adolf did not attend the funeral of his brother, only a phone call to the priest and said that he forgave his brother. Adidas has released a new model after the event with the message: «The family of Adolf Dassler doesn’t want to comment on Rudolf Dassler’s death». After 4 years Adi also died.
This day has a stadium named Adolf Dassler with his statue sitting on the stands.
The war between the two companies lasted until Adolf’s heirs also clashed with each other and eventually sold the company with half a billion dollars in revenue each year for 390 million.

ADIDAS và PUMA – Sự cạnh tranh của anh em Dassler trong thế giới bóng đá

0_the-dassler-brothers-1024x576

ADIDAS và PUMA – Sự cạnh tranh của anh em Dassler trong thế giới bóng đá

Rudolf Dassler sinh ngày 26 tháng 3 năm 1898 trong gia đình thợ làm giày, là đứa con thứ 3 trong gia đình. Sau 2 năm cậu ta có thêm em trai Adolf. Ngay từ khi còn bé chúng đã yêu thích thể thao và là đối thủ chính của nhau. Tình yêu với thể thao và cạnh tranh với nhau là lẽ sống của họ đến tận khi qua đời.

Anh em Dassler
Anh em Dassler

Công ty giày của anh em Dassler


Vì yêu thể thao nên Adi Dasler nảy sinh ý tưởng mở thương hiệu sản xuất giày thể thao với đinh của riêng mình. Nhờ sự hỗ trợ của một thợ rèn chuyên làm đinh, Dasler-em bắt đầu mở mảng kinh doanh riêng. Một thời gian sau người anh Rudolf cũng tham gia cùng, cậu ta tuy không am hiểu về việc sản xuất giày, nhưng lại biết cách để bán được sản phẩm. Đó chính là bí quyết thành công của họ – một người nghĩ ý tưởng và thực hiện, còn người khác tìm kiếm khách hàng và thuyết phục họ mua sản phẩm.
Đến năm 1924 họ thành lập công ty: «Gebrüder Dassler» («Anh em Dassler»). Sản xuất ngày càng được mở rộng, sản phẩm được yêu thích và thành công lớn đàu tiên đến vào năm 1928 tại Olympic ở Amsterdam khi có vài vận động viên thi đấu với giày của họ. Và sau 4 năm tại Los Angeles vận động viên đoạt huy chương đi giày của họ – người Đức Arthur Jonat đạt huy chương đồng trong nội dung chạy 100m. Đỉnh cao cho hai anh em là năm 1936 tại Olympic ở Berlin, vận động viên điền kinh Jessie Owens (Mỹ) đi giày của họ và đạt 4 huy chương vàng. Khi đó cả thế giới biết đến anh em Dassler.

Cuộc chia rẽ lớn

Ai cũng biêt là cả 2 anh em đều theo chủ nghĩa phát xít. Chế độ độc tài toàn trị đi kèm theo phong trào thể dục thể thao lành mạnh mở ra tiềm năng lớn cho nhà máy Dassler. Nhưng vì Thế chiến thứ 2 họ phải bắt đầu bằng giày cho quân nhân, và năm 1943 Rudolf phải nhập ngũ. Tuy nhiên ông cũng không phải ra trận lần nào, vì xin được vị trí ở phòng đánh máy, còn năm 1945 chạy trốn khi Hồng Quân Liên Xô tiến đến gần và cuối cùng bị bắt vì tội đào ngũ. Trên đường đến trại giam ông được quân Mỹ giải cứu nhưng sau đó lại bị bắt vì tội hợp tác với Gestapo. Khi bị bắt ông mới biết người tố cáo ông chính là người em trai Adolf.
Tất cả các mâu thuẫn từ trước đến giờ đã bộc lộ. Rudolf đã khai với chính phủ Mỹ là ý tưởng sản xuất giày cho quân phát xít là hoàn toàn do Adolf đưa ra. Lính Mỹ sống trong biệt thự Dassler gần một năm và yêu cầu họ sản xuất giày trượt băng cho khúc côn cầu Mỹ. Đến tận năm 1946 họ mới lại sản xuất giày thể thao, còn năm 1948 Christof Dassler qua đời – người cha của 2 anh em và người duy nhất ngăn cản chúng không cãi nhau và chia tách công ty.
Vậy là ở cùng một thành phố nhỏ chỉ cách nhau vài trăm mét có tới 2 nhà máy sản xuất giày thể thao cực kì thù địch – Addas và Ruda. Đúng rồi đó, không phải viết nhầm đâu.

Sự kì diệu ở Bern


Sau vài tháng Rudolf từ bỏ ý tưởng dùng tên mình trong tên công ty và đổi thành Puma. Còn Adi quyết định thêm 1 chữ nữa và thêm 1 vạch vào logo. Khi đó sự cạnh tranh của họ đã lan rộng, thành phố cũng chia cắt thành 2 phe.
Nhưng danh vọng của 2 anh em lớn hơn thành phố nhỏ đó rất nhiều. Anh em Dassler nối lại liên kết với các Ủy ban thể thao và Olympic của các nước, sau khi chúng bị gián đoạn bởi chiến tranh. Họ luôn luôn cạnh tranh với nhau nên dẫn đến việc cả thế giới không thể có giày tốt hơn Adidas và Puma. Năm 1952 anh em Dassler có bước ngoặt lớn khi cung cấp cho giải bóng đá Tây Đức những chiếc giày với đinh có thể thay. Nhưng trước World Cup 1954 Adi Dassler đã thỏa thuận được với đội tuyển Đức về việc cung cấp giày hiện đại nhất thời đó. Và nhờ đó cũng có chỗ đứng trong lịch sử lớn hơn Rudi.
Trong trận chung kết đội tuyển Đức gặp «thế hệ vàng» Hungary với Ferenc Puskas vĩ đại. Ở vòng bảng Hungary đã hủy diệt Đức với tỷ số 8:3 và mọi người đều cho rằng chức vô địch chắc chắn nằm trong tay Hungary rồi. Hiệp 1 kết thúc với tỷ số 2:2. Lúc hiệp 2 bắt đầu thì trời đổ mưa to và Adolf ngay lập tức cho các cầu thủ đổi sang giày với đinh dài hơn. Nhờ đó đội tuyển Đức đã có sự linh hoạt hơn và phút 84 đã ghi bàn ấn định chiến thắng. Trận đó đi vào lịch sử với tên «Sự kì diệu ở Bern».
Sau chiến thắng đó Adi nảy sinh ý tưởng đặt quảng cáo ngay trên sân vận động. Năm 1956 ông thỏa thuận với ủy ban Olympic về việc quảng cáo Adidas tại Olympic ở Melburn. Vậy là em trai đã vượt xa người anh, nhưng Rudolf không hề bỏ cuộc. Năm 1958 Puma ăn mừng chiến thắng đội tuyển Brazil, còn Rudi nắm bắt thời cơ và kiện khẩu hiệu «Adidas – giày thể thao tốt nhất thế giới!». Và đã thắng vụ kiện.

Thỏa thuận với Pele

Dù họ ghét nhau nhưng để tránh tăng giá trên thị trường quảng cáo nên các con trai của Rudolf và Adolf – Armin và Horst – đã có thỏa thuận với nhau là sẽ không kí hợp đồng với các cầu thủ xuất sắc nhất thế giới. Nhưng có thỏa thuận không có nghĩa là thực hiện theo. Thị trường Nam Mỹ rất tiềm năng đối với 2 anh em. Năm 1970 trước World Cup vài tháng, Armin Dassler thuê chuyên gia tư vấn đến Rio de Janeiro, để thuyết phục các cầu thủ Nam Mỹ là họ sẽ thi đấu tốt gấp đôi khi đi giày Puma. Vua bóng đá rơi vào tình huống khó xử: Puma mở ra chiến lược marketing rộng rãi nhưng không liên hệ với ông. Sau đó đại diện của Pele đã đưa ra mẫu hợp đồng cho Armin Dassler.
Puma đã trả tiền cho Pele để ông bắt đầu buộc dây giày ngay ở giữ sân trước khi trận đấu bắt đầu, để ai cũng nhìn thấy là vua bóng đá đi giày Puma:
https://www.youtube.com/watch?v=ZpYlGhsAXLE&feature=youtu.be

Horst Dassler vô cùng bức xúc khi biết điều đó. Cuộc chiến giữa những người cha trở thành cuộc chiến của những người con.

ADIDAS và PUMA Pele
ADIDAS và PUMA Pele

Kết thúc câu chuyện

Rudolf Dassler qua đời năm 1974 ở độ tuổi 76 vì ung thư phổi. Theo tin đồn thì đầu những năm 70 2 anh em bí mật gặp nhau vài lần, nhưng Adolf cũng không đến dự đám tang của anh trai, mà chỉ có cuộc gọi điện cho linh mục và nói rằng ông tha thứ cho anh trai. Adidas đã cho ra mắt mẫu mới sau sự kiện này với thông điệp: «Gia đình Adolf Dassler không muốn bình luận gì về việc Rudolf Dassler qua đời». Sau 4 năm Adi cũng qua đời.
Ngày này có SVĐ mang tên Adolf Dassler với tượng của ông ngồi trên khán đài.
Chiến tranh giữa 2 công ty kéo dài đến khi các người thừa kế của Adolf cũng có mẫu thuẫn với nhau và cuối cùng bán đi công ty với doanh thu nửa tỷ đô mỗi năm với giá 390 triệu.

(Nguồn FB Nam Nguyen)


TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP – 1946

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP - 1946

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP – 1946

(Dành cho người yêu lịch sử)

Sau loạt bài liên quan đến chuyến đi của cụ Hồ sang Paris năm 1946 những người yêu lịch sử như anh Lê Viết Thái, Sơn Kiều Mai đã chia sẻ thêm nhiều tư liệu quý giá của những tháng năm đó, qua đó phần nào cho ta thấy được tâm tư của những con người trí thức xa quê hương nhưng luôn hướng về cố quốc.



Ví dụ văn bản sau, là Tuyên bố của các trí thức tại Pháp được ký bởi nhiều vị đã và đang sống và học tập tại Pháp (trong ảnh là chữ ký của hai cựu sinh viên trường Cầu Đường Paris là ông Lê Viết Hường và ông Nguyễn Hy Hiền. Ông Hiền quê ở Thừa Thiên-Huế, về nước cùng nhiều tri thức khác trên chiếc tàu chuyến thứ hai là “Felix Roussel” cuối năm 1946 rồi ra nhập chiến khu Rừng Sác, ông Hường về nước cuối năm 1949 về Bangkok rồi theo đường bộ đi ra nhập chiến khu Việt Bắc).

“TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT CƯ TRÚ TẠI PHÁP

tuyên bố đoàn kết nhất trí cao với các Trí thức Việt Nam những người đã ký, vào ngày 2 tháng 4 năm 1946, tại Hà Nội, Bản đề nghị với nội dung như sau:

Các trí thức Việt Nam, cho rằng nước Cộng hòa Việt Nam là một nhà nước tự do mà lãnh thổ không thể bị xâm phạm; và rằng, về mặt địa lý, lịch sử, dân tộc, kinh tế, Nam Kỳ luôn là một phần không thể tách rời của Việt Nam.
Xét thấy rằng Nhà nước Việt Nam tự do, với tư cách là một nhà nước có chủ quyền, không thể tuân theo chủ quyền của một quốc gia khác; Nhà nước Việt Nam tự do chỉ có thể phụ thuộc vào chính ý chí tự do của bản thân.
Xét thấy rằng các sự việc đáng tiếc gây ra bởi một số yếu tố Pháp mang tính thực dân, thể hiện ý muốn thù địch đối với việc Việt Nam thực thi các quyền chủ quyền, và nhất là với việc áp dụng Thỏa thuận Đình chiến, trên phần Lãnh thổ Nam Kỳ.
Xét thấy rằng các cuộc đàm phán chính thức giữa hai Chính phủ Pháp và Việt Nam, vì lợi ích chung của các dân tộc Pháp và Việt Nam, đã không đạt được kết quả như nhà nước thực dân này hy vọng:

Vì những lý do trên:
Phản kháng mạnh mẽ, chống lại mọi nỗ lực cố tình làm suy yếu sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và nhất là chống lại sự tách rời của Nam Kỳ;
Phản đối mạnh mẽ, chống lại mọi nỗ lực cố tình tạo ra, hoặc khôi phục, các thực thể có thể gây hạn chế chủ quyền của Nhà nước Việt Nam;
Phản đối việc tiếp tục các hoạt động quân sự ở Nam Kỳ, của quân đội Pháp, nhằm chống lại quân đội Việt Nam, vi phạm Thỏa thuận đình chiến;

Phản đối bất kỳ sự chiếm đóng nào bởi các đơn vị hành chính công trên lãnh thổ Việt Nam, mà không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam; yêu cầu các cuộc đàm phán được quy định trong Công ước tháng 3 năm 1946 phải được tiến hành ngay lập tức tại Paris.

Paris, ngày 11 tháng 5 năm 1946.”
&&&&&

Hay một số báo “Cứu quốc” ngày 24/10/1946 đã có những bài rất hay về Hồ Chủ tịch và những trí thức mới về nước cùng cụ từ bên Pháp:

“LỜI TUYÊN BỐ CỦA Hồ Chủ tịch

Sau khi về dinh Chủ tịch chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, Hồ Chủ tịch, ngoài việc tiếp các đoàn thể, các đại biểu báo giới, chính giới, đã phát biểu lời tuyên bố, một lần nữa, tỏ rõ sự săn sóc và ý nghĨ của Người đối với hết thẩy những vấn đề quan hệ đến nước Việt Nam.

Bằng một giọng gọn gàng mà đầy đủ, lời tuyên bố trước hết vạch rõ chính sách ngoại giao và nội trị của Chính phủ Việt Nam.

Về ngoại giao, nước Việt Nam đã quyết định:
– Thân thiện với các nước Mỹ, Trung Hoa, Anh v.v.

– Hợp tác thành thực với người Pháp. Nhưng sự hợp tác phải xây dựng trên căn bản tự do và bình đẳng. Câu: “Việt Nam nhất định độc lập. Trung Nam Bắc nhất định thống nhất” trong lời tuyên bố đã chứng tỏ sự tha thiết và sự quyết tâm của Chủ tịch và của dân tộc Việt Nam đối với nền thống nhất và độc lập của nước Việt Nam.

Về nội trị Chính phủ Việt Nam vẫn cố theo đuổi chính sách tập trung tất thẩy lực lượng của các tầng lớp dân chúng. Các đảng phái, các tôn giáo vào một khối đoàn kết của toàn dân, để:
– Dành, giữ tự do và độc lập
– Kiến thiết nước Việt Nam mới

Đó là những nét lớn trong chính sách của Chính phủ Việt Nam do Hồ Chủ tịch vạch ra trong lời tuyên bố.


Bên cạnh những nét lớn ấy và bao trùm ấy những nét ấy là tấm lòng của Chủ tịch. Lòng tha thiết của Chủ tịch chia sẻ và chú trọng đến cả mọi người. Về phương diện này, mỗi câu mỗi chữ là chứa nặng một cảm tình chí thiết. Những cảm tình ấy hướng về Nam, về người Việt ở miền Nam nhiều hơn hết, vì đồng bào ở miền Nam đau khổ hơn hết, hi sinh nhiều hơn hết, chiến đấu gay go hơn hết và do đó rất xứng đáng sự săn sóc của Người và của quốc dân.

Tóm lại lời tuyên bố của Hồ Chủ tịch cho ta thấy chính sách của nước Việt Nam đã rạng rỡ ra bởi cái lý trí sáng suốt và sắt đá của Người. Nhưng coi chính sách của lý trí ấy, đã được dịu đi và thắm lại bởi cảm tình dào dạt của Người.
Chính vì vậy, lời tuyên bố vừa có cái giọng nghiêm nghị, mạnh mẽ của vị Thủ lĩnh, vừa có cái giọng đầm ấm mặn mà của một người Cha.
Trí của Chủ tịch là ở đây, lòng của Chủ tịch cũng ở đây, và sức mạnh của Chủ tịch cũng ở đây…”.
&&&&&

Một bài phỏng vấn có lẽ là đầu tiên của 2 đại diện trí thức từ Pháp về:

ĐI THĂM HAI KỸ SƯ MỚI Ở PHÁP VỀ

Kiều bào ở Pháp có 50 người học về các ngành chuyên môn.
Điều cần thiết là xứ mình cần có kỹ nghệ thì có thể đào tạo được ngay nhân tài chuyên môn (Lời ông Lễ)
Tôi đã gặp hai ông Phạm Quang Lễ – kỹ sư cầu cống và Võ Đình Quỳnh – kỹ sư khoáng chất, mới ở Pháp về cùng Hồ Chủ tịch, tại phòng Nam Bộ, đường Gia Định.
Ông Lễ đã đứng tuổi, ông qua Pháp đã 11 năm. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư cầu cống, ông theo đuổi nghề trong ít lần, rồi tìm một ngành chuyên môn khác để học thêm.
Ông Quỳnh hãy còn trẻ lắm. Ông sang Pháp từ năm 1939. Hồi đó ông mới 20 tuổi. Ông tốt nghiệp kỹ sư tại 1 trường Khoáng chất lớn nhất ở Ba Lê.
Ngoài ông Quỳnh còn có ba nhà chuyên môn về mỏ, là ba ông Trần Minh, Hoàng Kinh và Bài. Hai ông Minh và Kinh đã đỗ bằng kỹ sư rồi, hiện đang làm tạp sự trong mỏ. Ông Bái còn đang học.

Cả ba ông đó đều học ở trường Xanh-tê-chiên (Saint Etienne), một trường khoáng chất lớn ngang bằng với trường Khoáng chất Ba-Lê.

Ông Quỳnh thấy ông về nước lúc này là rất hợp thời. Ông nói:
– Chúng tôi về đây cần phải thực hành ngay, và phải hoạt động thật gấp.

Thế nhưng ông đã dè dạt quá trong khi ông phát biểu ý kiến về những lợi ích mà các nhà chuyên môn mà các nhà chuyên môn ở ngoại quốc đã về hay sắp về nước có thể giúp cho Tổ quốc đang lúc hiếm người tài giỏi
– Chúng tôi, ông nói, chỉ muốn chờ cái kết quả nó sẽ nói nhiều hơn là những lời chúng tôi nói bây giờ.

Tuy nhiên, trong câu chuyện thân mật, ông Quỳnh cũng đã cho tôi biết đôi điều:
– Nếu có sự chỉnh đốn về kỹ nghệ, có thể dùng ngay được các nhà chuyên môn khoáng chất ở nước ngoài về.

Nhưng lo nhất về sự thiếu máy móc, ở nước ta có hai miền nhiều mỏ là miền Bắc và miền Trung. Phải lo làm sao cho có bao nhiêu kỹ sư khoáng chất phải được dùng hết vào việc mỏ ở hai miền đó.

Kỹ sư Phạm Quang Lễ cho tôi biết gần hết những điều tôi muốn đem ra đây làm chút quà của mấy đồng bào ta vừa mới ở Pháp mang về.
Kiều bào ta ở Pháp có tới 50 người học về các ngành chuyên môn. Hiện nay phần đông ở Ba lê, còn ở Tu lu (Toulouse) và Boóc đô (Bordeaux) rải rác có đôi người. Kỹ sư cầu cống cũng chiếm một số nhiều trong những ngành người mình theo học: điện học, hóa học, khoa học, khoáng chất, luật học, y học. Những người chuyên môn cần thiết cho nước nhà trong lúc cần phải kiến thiết thật nhiều này sở dĩ không có mấy là vì ngày trước, được đi du học, người mình có nghĩ đến cái mục đích học rồi về giúp nước đâu. Học là vì muốn có danh vọng. Học là muốn có một nghề nó nuôi sống mình. Thế thôi. Nên ai thích gì học nấy. Cái mà mình cho là có danh vọng hơn cả là nghề thuốc và luật. Các ông y khoa bác sĩ và luật khoa tiến sĩ ta có nhiều quá, nếu đem so với các ngành chuyên khoa khác. Nhiều không phải là thừa. Nhưng nếu có được một số kỹ sư hóa học, kỹ sư khoáng chất tương đương với số bác sĩ, trạng sư, thật là sự may mắn lớn cho nước nhà trong giai đoạn lịch sử này.

Ông Lễ cho tôi biết về óc thông minh của đồng bào ta theo học ở ngoại quốc:
– Mình không thua người ta về một phương diện nào. Điều cần là ở nước mình có kỹ nghệ trong xứ thế nào cũng đào tạo được nhiều về chuyên môn. Thí dụ, nước mình có trường thuốc, số người tốt nghiệp về ngành đó rất nhiều.

Rồi với 1 giọng đầy tin tưởng, kỹ sư Lễ nói đến sự hoạt động của các nhà chuyên môn ta khi nghĩ đến việc về quê hương để giúp nước.
– Chúng tôi lo nghiên cứu chương trình để về nước hợp tác với anh em kỹ sư ở đây, chúng tôi cũng đã nghĩ đến mua máy móc. Nhưng có tiền để mua cũng đã khó khăn lắm. Lại còn điều khó nữa là phải mua ở các nước khác, chứ chính nước Pháp cũng thiếu máy lắm.

“Có người chuyên môn để lo mở mang kỹ nghệ là việc gấp. Cần lắm, ta có thể mở trường đào tạo cấp tốc một số người. Thiếu máy móc cho họ học thực hành, có thể dạy cho họ lý thuyết, rồi khi có máy cho họ học qua máy cũng mau lắm.
Nói thế là đã giải quyết tạm bợ thôi. Phải lo gửi ngay người đi ngoại quốc học.

Sang Pháp các trường chuyên môn không đủ cho mình học. Phải qua Mỹ, qua Anh, qua Bỉ, qua Thụy Sĩ. Học về mỏ, tốt nhất là qua Mỹ và Thụy Sĩ. Số người gửi đi, phải cho theo chuyên môn cấp tốc về mỏ, hóa học, đúc, nấu quặng, kỹ nghệ nặng.

Trong việc gửi người đi nước ngoài, có khó là về giao thông. Còn tiền bạc, không hết nhiều lắm. Ở miền mỏ Lie-giơ (Liêge) mỗi tháng chừng một ngàn quan là theo thời giá đắt đỏ bây giờ. Qua Liê-giơ, ta có hy vọng học được nhiều. Là vì người Thụy Sĩ tốt lắm. Họ có thể hết sức dễ dàng trong việc thu nhận sinh viên của ta gửi sang, miễn là sinh viên ta phải sõi tiếng Anh và tiếng Đức. Nhờ có Anh Đức Hội, mấy giáo sư người Thụy Sĩ rất có cảm tình với ta. Và người Thụy Sĩ họ đã biết nhiều đến nước Việt Nam ta rồi, họ mến ta lắm”.

Cuối cùng, ông Lễ cho tôi biết thêm rằng ông Hoàng Minh Giám và hai ông Mai, Danh đã làm việc ráo riết để đưa một số sinh viên và nhà chuyên môn ta về nước. Có hi vọng cuối tháng này hay trong tháng tới kiều bào đó đã về tới nhà.

Rồi, cuối cùng, ông Lễ kết luận:
– Lúc về tới nước nhà, tôi có cảm tưởng rằng người mình khổ sở trên hết các dân tộc khác. Trái lại, chúng ta có thua họ về phương diện nào đâu. Tài, chúng ta có thừa. Nước ta lại rất nhiều nguyên liệu. Cho nên muốn giữ vững độc lập, chúng ta phải có kỹ nghệ. Và phải kỹ nghệ hóa nữa”.

Qua đó ta thấy được viễn kiến của ông Lễ (Trần Đại Nghĩa) về việc giáo dục các ngành nghề cấp thiết cho thanh niên Việt Nam trong gia đoạn mới. Không có gì lạ, rằng chính ông sau này là Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội.


Tham khảo thêm: http://m.cand.com.vn/…/Hai-anh-em-ruot-Vo-Dinh-Quynh—Vo…/…

(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2165751710153421)

ÔNG LIÊN XÔ BÀ TRUNG QUỐC -1969

bien gioi lien xo trung quoc

ÔNG LIÊN XÔ BÀ TRUNG QUỐC -1969

(Trận chiến lớn nhất giữa Liên Xô và Trung Quốc đã ảnh hưởng thế nào đến chiến tranh Việt-Trung năm 1979?)

Lời giới thiệu: “Ông Liên Xô, bà Trung Quốc, ông đi guốc, bà đi giày, ông nhảy dây, bà đá bóng, ông đi tắm, bà cài then…” là một câu đồng dao của trẻ con miền Bắc những năm 60-70 của thế kỷ trước. Mà như lịch sử cho thấy những câu đồng dao của mọi dân tộc dù có vẻ ngô nghê nhưng đều ẩn chứa thông tin về những thời kỳ lịch sử đầy biến động, những sự kiện nội địa và quốc tế vô cùng đình đám. Và dù đã thuộc nằm lòng câu hát này, chỉ khi đã lớn lên, đã đi khắp bốn phương trời chúng ta mới bắt đầu hiểu láng máng về nó, về một bức tranh quan hệ vô cùng phức tạp giữa hai “người anh lớn” của chúng ta, giữa hai “đảng cộng sản anh em”, và hơn hết giữa hai đại cường quốc mà chúng ta cứ đơn giản nghĩ rằng họ đang cùng một trục, với kim chỉ nam là học thuyết Mác-Lê. Chúng ta có học được gì không ư, có vẻ như học chả được nhiều lắm đâu, nhất là với thân phận “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc”.


Mở đầu 1: QUAN HỆ XÔ-TRUNG:
Liên Xô chiến thắng trong chiến tranh thế giới 2, từ đó tạo tiền đề cho việc sinh ra nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trong vai trò người chiến thắng họ có thêm được một đồng minh khá chắc chắn (cùng phe XHCN cơ mà) lại là láng giềng, nên phải nói là thời gian đầu Liên Xô giúp đỡ Trung Quốc khá nhiều, cũng đúng thôi, Liên Xô còn giúp nhiều nước XHCN khác nữa là, toàn “đồng chí” cơ mà. Khi đó họ đang vượt xa Trung Quốc về khoa học kỹ thuật, thể thao văn hóa, uy tín quốc tế và tiềm năng quân sự thì khỏi nói rồi. Thế nên thời gian đó rất nhiều cán bộ Trung Quốc được đào tạo ở Liên Xô, vùng phía bắc ráp gianh thi Liên Xô giúp cho biến Harbin (Cáp Nhĩ Tân) thành trung tâm công nghiệp nặng, rồi còn có thể kể thêm ngành khai khoáng, thậm chí một phần nào đó của công nghiệp quốc phòng. Văn học Nga và Xô Viết và âm nhạc Nga được phổ biến rộng rãi (lan tỏa sang cả Bắc Việt Nam). Say sưa với thắng lợi, có vẻ như Liên Xô bỏ qua mất một điều: không hiểu những cái đầu của lãnh tụ Trung Quốc đang nghĩ gì…

Chiến tranh giữa hai miền của Triều Tiên nổ ra với ý đồ của Liên Xô mượn tay Bắc Triều Tiên để thống nhất bán đảo này, quân đội phương bắc đang thắng thế thì Mỹ và Liên Hiệp Quốc đưa quân vào can thiệp, thế cờ thay đổi hoàn toàn. Không thể để cho một quốc gia “tư bản” hình thành ngay bên nách mình Trung Quốc đã tung quân trợ giúp Bắc Triều Tiên. Thế cờ lai một lần nữa đảo ngược, và cuối cùng hòa ước phân chia ranh giới hai miền quay về vĩ tuyến 38 như trước kia. Không phải để giúp Liên Xô, mà ngược lại từ nay Bắc Triều Tiên không chỉ phụ thuộc vào sự trợ giúp của Liên Xô mà còn bị ảnh hưởng rất lớn của Trung Quốc nữa! “Tên sen đầm quốc tế” là USA phải thấy TQ như một lực lượng đáng gờm, chứ không còn là nước đàn em theo đuôi của LX nữa! Cách suy nghĩ, cách hành xử của TQ khi can thiệp vào cuộc nội chiến của nước lân bang mọi người có thấy giống ở đâu không ạ…? Chuyện đó chúng ta sẽ bỏ qua!

Chưa kịp quen hết với những thói quay quắt của Trung Quốc thì những thay đổi về nhân sự và chính trị của LX bị TQ đả phá tơi bời. Việc Nikita Khrushev tại đại hội đảng LX 1956 đả phá mạnh mẽ tệ sùng bái cá nhân (lãnh tụ Stalin) bị Mao coi là “phản bội”, lãnh đạo LX bị coi là “bè lũ xét lại” (từ này du nhập rất nhanh vào Việt Nam đấy). Ngược lại LX đả phá “bọn Maoist” với biết bao trò man rợ, ngô nghê kiểu “cách mạng văn hóa”, học Mao tuyển, “đại nhảy vọt”, diệt chim sẻ, cả nước làm luyện kim… TQ rút tất cả các sinh viên, chuyên gia của mình đang ở LX về nước, cao giọng đòi hỏi những thứ cực kỳ ngang ngược Chẳng hạn đòi sáp nhập Mông Cổ! Hay đòi Liên Xô phải trao ra bí mật chế tạo tàu ngầm hạt nhân cho TQ (xin nhớ công nghệ chế tạo bom nguyên tử là quà tặng của Stalin cho Mao đấy…)!? Hãy nhớ lại chính phủ Bắc Việt Nam đã phải vất vả thế nào để chiều lòng được cả “hai ông anh” mà nhất là ông anh láng giềng Trung cộng, trong khi “hai ông anh” giúp ta đầu tiên là chống Pháp, sau đó gây dựng “nền kinh tế mới XHCN” và rồi chống Mỹ và chế độ Việt Nam cộng hòa. TQ lúc nào cũng leo lẻo chê bai những ai chúng coi là không quán triệt đường lối Marx-Lênin-Mao nhưng khi năm 1968 Tiệp Khắc quyết tâm cải cách chính trị, từ bỏ con đường cộng sản (“mùa xuân Praha”) và đến 8/1968 Liên Xô chớp nhoáng tiến hành chiến dịch “Dunai” cùng các thành viên khối Varsava thực chất là xâm chiếm và đè bẹp chính quyền Dubcek thì TQ lại lên tiếng ủng hộ Dubcek (hoàn toàn không phải vì TQ “tiến bộ” hay “dân chủ” gì, đơn giản là “thích thì phê phán thôi” – TQ phê phán LX còn ác liệt hơn tất cả các nước phương tây nữa! TQ gọi đấy là “cuộc xâm lược man rợ” và “sự phản bội trắng trợn chủ nghĩa Mác-Lê”! Trong khi LX biện bạch và các nước XHCN khác đồng thanh: ”Các nước trong khối XHCN thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã tới để giúp đỡ nước Tiệp Khắc anh em”… Và LX tuyên truyền rộng rãi rằng “trước 8/1968 TQ chỉ từ chối cùng giúp đỡ nhân dân Việt Nam anh em, còn sau sự kiện “mùa xuân Praha” TQ đã hoàn toàn chuyển sang phe phản cách mạng”. Tức là đối với LX thì TQ đã “phản bội” và giờ đứng cùng một bè đảng với Mỹ, Tây Đức, Anh… là các nước “phản động”. Tuy nhiên sau đó vài tuần truyền thông của Liên Xô cố tình không đưa tin gì về phản ứng của lãnh đạo và nhân dân TQ về “mùa xuân Praha” – có lẽ Đảng CS LX không dám làm quá ầm ĩ vì “xấu chàng hổ ai” – nếu không khối XHCN sẽ lung lay mạnh lắm. Lạ hơn nữa cái logic của Mao Trạch Đông khi kết tội Brezhnev thông đồng với Washington để đàn áp dân chủ ở Tiêp Khắc…


Mở đầu 2: ĐẢO TRÂN BẢO (DAMANSKY) VÀ TRANH CHẤP LÃNH THỔ LX-TQ
Sa hoàng đã để lại một di sản khổng lồ với lãnh thổ bằng 1/6 diện tích đất trên quả địa cầu. Sau thế chiến II thậm chí LX không mất đất mà còn “ăn ra” với nửa đảo Sakhalin và mấy quần đảo lấy được của Nhật. Riêng với TQ đó là 7500 km chiều dài biên giới, mà phải nói rằng tuy rất tham lam và có số dân, số quân vượt trội nhưng quân đội Xô Viết quá “đáng sợ” thế nên LX chả mất cột cây số nào vào tay láng giềng phía nam. Trừ đảo Damansky…

Đó là một bãi bồi giữa con sông Ussury chia cắt lãnh thổ của LX và TQ ở vùng Primorye-Viễn Đông, Nga.Theo thông lệ quốc tế thì biên giới giữa hai nước phải là đường giữa sông, nhưng từ thời Sa hoàng Nga tuy bị thua Nhật tan tác ở vùng này, nhưng lại “át vía” được TQ thế là Sa hoàng cứ đòi đường biên giới là mép bờ nước về phía TQ cơ! Đành phải chịu đấy, TQ yếu mà! Đảo này trước kia nó là một phần của bờ sông Trung Quốc, bị dòng nước xói mòn nên thành ra dải cát giữa sông, thực ra nó bé tí (74 ha) và khi nào nước sông dâng cao thì chìm nghỉm, tuy thế Nga “đành hanh” bảo là của Nga! Phải chịu chứ biết làm sao chứ thực chất đây đúng là “mảnh đất chim ỉa” chả có lợi ích gì, đúng hơn so với việc sau này quan chức Việt Nam gọi HS-TS nhiều!

Năm 1949 khi Mao chủ tịch lần đầu tiên tới Matxcơva thăm nước LX – “người anh cả vĩ đại” và tất nhiên đề nghị Stalin giúp đỡ trong công cuộc xây dựng CNXH ở TQ. Khi nhận được lời hứa từ Iosiv Stalin Mao nhẹ nhàng hỏi thêm:

-vậy đến khi nào LX sẽ trả lại những lãnh thổ mà từ xa xưa vốn thuộc về Trung Quốc?

-những lãnh thổ nào nữa? Stalin ngán ngẩm hỏi sau một thời gian im lặng…

Mao đành giải thích đầu đuôi, từ thời Sa hoàng Alexey đệ nhị… Stalin nói một câu bất hủ mà Mao phải nuốt giận ra về, nhưng có lẽ chẳng bao giờ quên được:

-Bây giờ chúng tôi có những vị Sa hoàng mới rồi. Chúng ta là những người cộng sản, mọi thứ đều phải là của chung…

Đến khi 2 nước trở thành “XHCN anh em” rồi thì TQ mới cao giọng đòi đất, thực ra có lẽ để “nắn gân” “người anh em” LX hơn, chứ Mao Chủ tịch nói ngay tại đại hội ĐCS LX là “sẵn sàng hy sinh 300 triệu người TQ để làm cách mạng thế giới” còn riêng đối với LX thì “đất của tổ tiên người TQ trải dài từ Sibery cho tới Kamchatka” – tức là trong việc thực hiện mộng bá quyền của mình LX sẽ là vật chướng ngại lớn nhất!
LX đặt trạm biên phòng gần đấy, và vào mùa đông sông đóng băng thì bên trên đảo có độ một trung đội lính biên phòng chiếm giữ. Trong mọi cuộc đàm phán song phương cái tên “Damansky” hay tên TQ “Trân Bảo đảo” luôn được nhắc tới, TQ đòi còn LX chây ì! Càng ngày TQ càng gây sức ép, phía LX đếm được tới hơn 5000 vụ khiêu khích và vi phạm đường biên giới từ phía TQ chỉ riêng trong một năm (giống Lạng Sơn chưa?). Đầu tiên là nông dân (có thể là binh lính TQ cải trang) giả vờ lạc đường sang địa phận LX, thế rồi cãi lý om sòm rằng họ vẫn đang trên đất TQ đây chứ đâu, rồi sau này dân quân TQ và Hồng vệ binh liên tục đứng giương biểu ngữ, rủa xả đe dọa lính biên phòng LX, thậm chí có những lúc quân hai bên đánh nhau tay không như trong phim, nhưng lệnh từ cấp cao nhất tại điện Kremlin ban xuống: “đấu tranh hòa bình, cấm dùng vũ khí!”. Tình thế căng thẳng như vậy kéo dài nhiều năm, phía TQ toan tính nhiều phương án tấn công, phía LX có lẽ lâu ngày ảo tưởng về “người anh em” phương nam này chỉ dám nói chứ chả dám làm… Cũng phải nói thêm vì sao phía LX có vẻ như chủ quan: năm 1964 Khrushev muốn xoa dịu Mao nên hứa trả không chỉ Damansky mà còn nhiều đảo khác với tổng diện tích đến 20000 km2 cho TQ, nhưng Mao từ chối nhận quà tặng từ “kẻ phản bội” (Khrushev coi Stalin là phản bội, còn Mao coi Khrushev là phản bội). Vậy lí do gì mà từ chối món quà hậu hĩnh 20000 km2 rồi lại phải tấn công để đánh chiếm 0,73 k2 đảo không người, mà không sớm thì muộn nếu đấu tranh ngoại giao lâu lắm cũng chỉ vài năm rồi TQ sẽ đòi được mà không phải đổ máu? Chỉ có thể giải thích rằng: Mao từ chối “quà tặng” (mà cái ông Khrushev này cũng hay tặng đất vung vinh lắm cơn!) chỉ vì muốn tỏ ra đối với “tay sen đầm quốc tế” Mỹ là mình chả lệ thuộc vào CCCP, chả coi LX ra gì và sắn sang tấn công thậm chí cả LX bằng quân sự! Bức tranh quan hệ quốc tế thực sự rối ren: LX và TQ đều đang là đối thủ với Mỹ tuy không tham gia trực tiếp vào chiến trường Việt Nam, Nixon đang ôm lại vũng lầy Việt Nam khá là bế tắc, còn cả Mao và Brezhnev đều liên tục phát tín hiệu muốn đón tiếp, gặp gỡ tổng thống Mỹ ngay tại nước mình! Thế cờ đó được “cánh tay phải” của Nixon là ngoại trưởng Kissinger tận dụng tối đa… Thay cho Khrushev, TBT Brezhnev dù sao cũng kịp cẩn thận tăng cường sức mạnh quân sự của quân đội LX tại Viễn Đông lên mức tối đa!


CHIẾN SỰ:
Việc triển khai chiến sự với LX được tính toán kỹ lưỡng, cả thời điểm, số lượng quân tham gia – có nguồn tin bảo rằng chính phủ LX được nguyên soái Lâm Bưu báo từ trước, có lẽ chỉ không biết được chính xác là bao giờ thôi.
Cuối tháng 2/1969 ở vùng Primorye mới tiến hành tập trận, kết thúc xong các đơn vị và khí tài chính được kéo sâu vào cách biên giới ít nhất cũng 50 km. Mọi người đều mệt mỏi, tinh thần thả lỏng sau mấy ngày vất vả… Đêm mồng 1, rạng sáng mồng 2 tháng 3 năm 1969 một toán quân TQ trang bị súng ống đầy đủ âm thầm kéo tới hòn đảo này trên mặt băng (thời gian này mùa đông, nhiệt độ thường 20-30 độ âm, dòng sông Ussuri luôn đóng băng). Khi bộ đội biên phòng LX phát hiện ra, cũng tưởng như mọi lần thôi, họ tiến ra để “đấu lý” và thế là theo hiệu lệnh của tên chỉ huy lính TQ xả súng tiêu diệt, gần như cả toán quân 32 người của chỉ huy – thượng úy Ivan Strelnikov bị xóa sổ hoàn toàn. Không những thế sau đó thân thể của họ còn bị băm vằm, móc mắt… vô cùng dã man. Hạ sỹ Akulov bị thương và bắt làm tù binh, sau bị tra tấn dã man cho đến chết (vết tích còn rõ khi bên TQ trao trả lại xác cho phía LX). Duy nhất một binh nhì Genadi Serebrov thoát thân được. Toán quân thứ hai của Rabovich bị rơi vào vòng vây của địch. Nhưng lúc đó tốp quân của hạ sĩ Yuri Babansky bắt đầu tiến từ đồn biên phòng ra, và đã biết về tổn thất hoàn toàn của hai toán quân đi trước. Đáng nhẽ có thể quay lại đồn cố thủ để chờ viện binh nơi khác đến nhưng quả thực họ vô cùng căm thù vì đòn đánh ác độc và bất ngờ của quân TQ, nên dù rất ít người nhưng họ đã chuyển thành thế tấn công, trận chiến đẫm máu kéo dài khoảng 5 giờ đồng hồ, số lượng người chết các bên là: LX mất 31 lính biên phòng, bị thương 14 – phía TQ kéo về 248 xác chết (sau này truyền thông TQ thông báo là chết có 3 người). Quân TQ bị đẩy lùi (Yuri Babansky là người Xô Viết đầu tiên sau thế chiến lần thứ II được nhận danh hiệu “anh hùng Liên Xô” trong chiến đấu), nhưng họ ém sát biên giới trung đoàn 24 (một trung đoàn của TQ có tới 5000 lính). Mọi việc ngày 2/3 được báo cáo lên Alexey Kosygin (Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng) – vốn khá ôn hòa, chậm chạp. Phía LX cử sư đoàn cơ động 135 tới gần đảo Damansky với một vũ khí mà tại thời điểm đó còn đang coi là tuyệt mật…

Chiến sự tạm dừng, nhưng cả thế giới ngỡ ngàng. Một nước có hơn ¼ dân số thế giới tấn công vũ trang một nước láng giềng có lãnh thổ bằng 1/6 thế giới – mà họ đều là “anh em XHCN” và đều nắm giữ vũ khí hạt nhân – phải nói là ngay tổng thống Nixon cũng bị quá bất ngờ. TQ già mồm thì gọi đấy là “chiến dịch phòng vệ hợp pháp” bởi LX khiêu khích, còn giới lãnh đạo LX thì cố gắng che chắn thông tin, chỉ coi đây là một xung đột không đáng có ở biên giới giữa vài tay lính biên phòng của cả đôi bên. Matxcơva vẫn chỉ đạo vùng quê hẻo lánh Primorye ấy phải “không mắc mưu khiêu khích của địch, tránh xung đột vũ trang trên diện rộng” và hàng ngày đưa ra rất nhiều chỉ đạo mâu thuẫn kỳ lạ, chứng tỏ ngay ở thủ đô LX các lãnh đạo cũng chưa sẵn sàng và chưa thống nhất được cách ứng phó với TQ.

Mỹ cũng rất ngỡ ngàng, Kissinger có lẽ là người hiểu rõ nhất nguy cơ tiềm ẩn: LX đang hết sức nhún mình tránh chiến tranh với TQ, nhưng khi có rất nhiều ý kiến khác nhau của Bộ chính trị về độ tàn ác, dã man của lính TQ điều này cho thấy nếu chiến sự còn xảy ra nữa thì hoàn toàn có thể đến lúc nào đó Matxcơva “điên lên” và chỉ cần họ bắn một quả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân vào Bắc Kinh thì phía TQ không có khả năng bất kỳ nào để chống trả, sẽ tiêu hủy hoàn toàn ít nhất ½ thủ đô TQ (lúc đó mới có 7 triệu dân). Còn về phía TQ tuy mới có bom khinh khí (ở chế độ thử nghiệm thành công) nhưng họ luôn kém về việc làm sao đưa bom hay đầu đạn tới đích được, và với một lãnh thổ bao la như LX thì TQ chả thể tiêu diệt được thủ đô Matxcơva hay trung tâm kinh tế chính trị lớn nào. Nhưng một cuộc chiến hạt nhân như vậy hoàn toàn chả đem lại lợi ích gì, kể cả cho Mỹ. Thậm chí có khả năng chiến tranh thế giới lần thứ 3 sẽ xảy ra chỉ vì một bãi bồi không ai biết – Damansky, và thế là có lẽ lần đầu tiên Mỹ đã rất cố gắng về mặt ngoại giao để dàn hòa hai “anh em XHCN” là LX và TQ! Nhưng có lẽ cũng không hiệu quả lắm, bằng chứng là TQ lại ra đòn chớp nhoáng và bất ngờ một lần nữa, lần này thời điểm tấn công còn được lựa chọn kỹ hơn…

Ngày 14/3 vào lúc 15h (giờ địa phương, còn ở thủ đô lúc này mới 9h sáng tức là khá sớm) Matxcơva ra lệnh rút toàn bộ quân khỏi đảo (có một trung đội ấy mà!). Lập tức lính TQ tràn lên chiếm toàn bộ đảo. Sau đó phía LX cử 8 xe bọc thép tiến về phía đảo Damansky, quân TQ vội tháo lui. Nhưng chỉ mấy tiếng sau, 20h lại có lệnh trên “quay lại đảo” – thế là lúc ấy bộ đội biên phòng mới quay lại đảo. Hôm sau khoảng 500 quân TQ tấn công đảo, với sự trợ giúp của khoảng 50-60 khẩu pháo và súng cối. Phía LX đáp trả quyết liệt, họ có gần 60 chiến sĩ và 4 chiếc xe bọc thép, 4 chiếc xe tăng T-62. Nhưng sau mấy giờ đấu súng thì sự chênh lệch về lực lượng được thể hiện rõ ràng, quân LX đành lùi lên bờ sông bên mình, vài chiếc tăng bị bắn cháy, đạn dược cũng đã cạn. Tình thế vô cùng nguy cấp: Bộ chính trị thì không cho phép đánh trên diện rộng (tức là cấm sử dụng tới quân đội mà chỉ lính biên phòng thôi) mà như thế quân TQ đông gấp nhiều lần có thể đánh chiếm và tiêu diệt đồn biên phòng đã cạn kiệt súng đạn! Trong tình thế đó trung tướng chỉ huy quân khu Viễn Đông Oleg Losik đã dũng cảm chịu trách nhiệm (chứ không chờ đợi lệnh từ Matxcơva nữa) ra lệnh đưa vào trận vũ khí bí mật là dàn hỏa tiễn phản lực “Grad” BM-21 (“Mưa đá”). Chỉ dập xuống 10 phút, hỏa tiễn Grad đã tiêu diệt toàn bộ vũ khí, khí tài, thậm chí toàn bộ lực lượng chỉ huy của quân TQ không chỉ ở trên đảo mà còn sâu vào trong đất liền của TQ. Sau đấy còn vài đợt tấn công lẻ tẻ của quân TQ nhưng khá yếu ớt và cuối cùng TQ bỏ lại chiến trường không kèn, ko trống…

Muốn hình dung ra “Mưa đá” xin xem clip sau:
https://www.youtube.com/watch?v=p-lGwyySrwY
https://www.youtube.com/watch?v=mzfLZcE3Ze8

Ngày chiến sự được chọn không phải tình cờ. Hôm đó khai mạc giải vô địch thế giới về khúc côn cầu trên băng tại Thụy Điển, và mọi sự chú ý của người dân Liên Xô đang hướng cả về Stokholm. Đó không còn là thể thao đỉnh cao nữa, mà là sân chơi chính trị: cả LX và Tiệp Khắc đều rất yêu thích môn chơi này, và Tiệp có lẽ chỉ có thể “trả thù” được LX trong dịp này nữa thôi – đội tuyển của họ rất mạnh. Chưa kể Canada, Mỹ, rồi ngay cả Thụy Điển, Phần Lan cũng mạnh đều. Về phía LX họ có đội mình mạnh với ngôi sao trẻ Kharlamov, nhưng cảm nhận của họ về trách nhiệm chính trị trước nhà nước và nhân dân rất lớn lao, rất khó tập trung. Khoảng 100 nghìn dân Tiệp đã chạy sang Bắc Âu sau sự kiện “mùa xuân Praha” và họ điên cuồng cổ vũ cho Tiệp tất nhiên rồi, và bất cứ đội nào gặp với đội tuyển LX. Đám đông điên cuồng hô khẩu hiệu chống LX, và họ hô vang tên “Damansky”! Nhưng đúng vào ngày chiến sự 15/3/1969 đội tuyển Nga thắng Mỹ với tỷ số không tưởng 17:2!

(Kể thêm cho người yêu thể thao: giải năm đó đáng nhẽ cần tiến hành ở Praha, nhưng vì có sự kiện “mùa xuân” kia nên phải chuyển địa điểm. Cách chơi thay đổi, chỉ có có 6 đội và đánh thành 2 vòng, tất cả đều gặp nhau 2 lượt. Chưa bao giờ Canada và Mỹ lại thua thảm như lần này, trong khi đó Canada đang giữ kỷ lục về số lần vô địch. Vô cùng căng thẳng và kịch tính từ đầu giải tới cuối giải, nhất là những trận LX gặp Tiệp, 2 lần LX đều thua dưới áp lực quá lớn của khán đài và sự khiêu khích của đối phương. Tiền đạo Tiệp Golonko khi ghi bàn xong cầm gậy kiểu như cầm tiểu liên lia chĩa vào người các cầu thủ LX cả trên sân và trên ghế dự bị như đang nhả đạn, trọng tài và ban tổ chức cũng làm ngơ. Cuối giải 3 đội bằng điểm nhau: CCCP-Thụy Điển-Tiệp và LX đoạt huy chương vàng chỉ nhờ vào chỉ số phụ mà thôi, cực kỳ may mắn! Tuy vậy đó là thành tích phi thường nếu xét trong hoàn cảnh căng thẳng chính trị lúc đó. Firsov là tiền đạo LX được bình chọn là người chơi hay nhất giải! Canada tự ái vì thua tới mức bỏ tham gia các giải những năm sau, chờ cho đến khi Liên đoàn phải chấp nhận cho các cầu thủ chuyên nghiệp tham gia, lúc đó mới chịu quay lại…).

SAU CUỘC CHIẾN:
Bởi đảo Damansky ở nơi quá hẻo lánh nên cộng đồng quốc tế chỉ có thể theo dõi tin tức qua truyền thông của LX và TQ, mà 2 nguồn đó thường rất trái ngược nhau nên nói chung chả biết bên nào mà ủng hộ. LX mất 58 người (trong đó có 4 sĩ quan), TQ mất từ 600 đến 3000 người, con số chính xác cho đến bây giờ vẫn chưa được bạch hóa. Cộng với việc phía LX tiêu diệt rất nhiều khí tài của TQ, còn TQ bắn hạ được mấy xe bọc thép và đánh chìm được một chiếc T-62 xuống đáy sông Ussuri. Sau khi đình chiến phía TQ tìm cách kéo chiếc xe tăng lên bằng được (chiến lợi phẩm mà) còn phía LX dùng súng bắn tỉa bắn để ngăn chặn và cũng định kéo lên để bảo toàn… cuối cùng khi băng tan TQ cũng đem được nó về bất chấp ý định dùng súng cối bắn phá để không cho lọt vào tay địch, chiếc xe tăng xấu số này được TQ vừa triển lãm vừa để làm mẫu bắt chước chế tạo T-62 (vì LX cho TQ mẫu tăng chỉ đến T-59 sau đó quan hệ 2 “anh em” xấu đi rồi). Nhưng bắt chước về khí tài chưa bao giờ là chuyện dễ – xe tăng “nhái” này mang ký hiệu WZ-122A “San Ye” và có một số “cải tiến” từ phía TQ, nhưng mất mấy năm cải tiến mà cả 122A và 122B đều cho thấy không hề thích hợp với điều kiện chiến trường…

Hai bên vẫn còn bắn nhau qua lại cho tới tận 10/9 thì có quyết định đình chiến, dành cho ngày đàm phán rất quan trọng vào hôm sau. Hôm sau 11/9 sau khi sang Hà Nội để dự lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường về Alexey Kosygin bay rẽ qua Bắc Kinh, đàm phán và ký với người đồng cấp Chu Ân Lai Hiệp định về việc chấm dứt những hành động thù địch, trong đó thống nhất 2 bên không đưa quân lên đảo Damansky. Cuộc đàm phán tiếp theo 20/10/1969 thống nhất xem xét lại toàn bộ biên giới 2 nước, và trong đó đảo Damansky sẽ thuộc về TQ vào năm 1991! Những gì người lính biên phòng đã phải hy sinh xương máu để bảo vệ tại sao bên ngoại giao lại có thể dễ dàng đưa vào tay đối thủ như vậy quả là không dễ hiểu – chỉ có một giải thích sau đó 40 năm có vẻ có chút căn cứ. Theo loạt bài này của “Le Figaro” hay “South China Morning Post” (Hồng Kông) thì 5 ngày trước đó thế giới đứng trước một thảm họa hạt nhân: LX chuẩn bị đòn hạt nhân giáng xuống TQ, còn Mỹ khi biết được đã tuyên bố sẽ bác bỏ thỏa thuận hạt nhân đã ký với LX, và sẽ tấn công cùng lúc 130 thành phố lớn nhỏ của LX. Chiến tranh thế giới lần thứ 3 bằng vũ khí hạt nhân nnày chắc chắn sẽ đẩy loài người về thời kỳ đồ đá… Và thế là các cuộc đàm phán tay đôi, tay ba đã cứu nhân loại (khỏi chính họ chứ ai!). Còn chúng ta đâu có biết!

Sau chiến sự KGB tiến hành thẩm tra hành động của từng người lính đã tham gia chiến đấu, bất kể còn sống, bị thương hay đã hy sinh. Kết quả cho thấy: không một người lính nào hèn nhát, không ai có một ý định nào đầu hàng hay tháo chạy, còn các chỉ huy (có những người đã từng tham gia chiến tranh thế giới lần thứ II) là những tấm gương sáng cho lớp trẻ. Chính Yuri Andropov khi đó nắm quyền KGB – một người nổi tiếng rất “tiết kiệm” danh hiệu và huy chương – đã đề cử cho các chiến sĩ biên phòng vụ Damansky 5 người nhận “anh hùng LX” và 125 huân huy chương các kiểu – và qua đây cũng cho TQ thấy rõ định hướng tương lai của KGB cũng như LX nói chung đối với kẻ láng giềng tráo trở là TQ, rằng LX sẽ vô cùng “rắn” đấy.

1972 ở Bắc Kinh Mao gặp Nixon. Sau đó Nixon sẽ gặp lãnh tụ LX Brezhnev ở Matxcơva. Chủ đề chính có lẽ không nói thì ai cũng biết: giải trừ vũ khí hạt nhân, bài học Damansky và có lẽ cả bài học Việt Nam nữa. Thế giới đã đổi khác hoàn toàn sau sự kiện Damansky, và thậm chí bây giờ cũng chả còn Damansky nữa, chỉ còn Trân Bảo đảo. Và những bài học đáng ra không thể nào quên…

VÌ SAO?
Nhưng vì sao TQ đã tấn công cái đảo “chim ỉa” Damansky ấy, cho đến ngày hôm nay các nhà lịch sử và chính trị gia vẫn còn phải vò đầu bứt tai mà khó hiểu. Người duy nhất biết là Mao Chủ tịch đã đem theo bí mật xuống mồ. Dự đoán của tác giả (tất nhiên là cũng dựa trên những phân tích của người đi trước thôi) như sau:
Năm 1969 trong nước Mao đang gặp khá nhiều khó khăn như kinh tế kiệt quệ, chạy đua vũ trang tốn kém, quan hệ quốc tế hầu như chả có gì. Để nâng uy tín hay giá trị của mình trên trường quốc tế Mao phải “làm một vụ” gì đó đình đám để thế giới phải giật mình, Mỹ và phương tây phải nể mặt, ngay trong nước khi có chiến sự thì xử lý các vấn đề nội bộ cũng có quyền cao hơn hẳn. Trong khi Brezhnev và Nixon định bắt tay nhau chia đôi thiên hạ thì Mao không thể thúc thủ đứng nhìn. Tóm lại là một logic rất “Á Đông” mà người phương tây khó mà hiểu được, bởi vì Liên Xô sẽ thua (vừa bất ngờ vừa đông quân kiểu gì chả thắng) mà như thế uy tín của LX sẽ giảm sút nghiêm trọng (không phải chỉ với Mỹ hay Tây Âu đâu, ngay cả đối với “người em” Việt Nam nếu “anh cả” thua “anh hai” thì phải biết nghe lời ai rồi chứ…). Tức là bất chấp đạo lý, cuộc chiến này sẽ đượcgiữ ở mức độ “xung đột” thôi chứ chưa phải “chiến tranh” nhưng sẽ đem lại cho TQ và cụ thể là chính phủ Mao lợi đơn lợi kép. Chỉ có điều “người tính không bằng trời tính” dù người đó có là Mao Trạch Đông đi chăng nữa. TQ biết thừa Matxcơva sẽ không cho động binh (mà sẵn sàng hy sinh tính mạng của một vài chục, một vài trăm lính biên phòng – chính trị tàn khốc và bất nhân như vậy đấy) nên chắc thắng, nhưng không thể ngờ được tới sự chống trả quyết liệt rất anh hùng của chỉ mấy trăm lính biên phòng LX dù bị đánh úp bất ngờ. Và nhất là không thể ngờ được việc viên tướng Alexey Losik dám bất chấp lệnh trên để khai hỏa cứu đồng đội, càng không thể ngờ uy lực của “Grad” lại kinh hồn đến thế… Dù có thể coi rằng về sau TQ vẫn đạt được những mục đích đặt ra của mình, nhưng hệ lụy đối với TQ nói riêng và lịch sử thế giới nói chung là không hề nhỏ! (xem phần sau).

HỆ LỤY của DAMANSKY – TRÔNG NGƯỜI LẠI NGHĨ ĐẾN TA
Cho đến tận bây giờ tưởng chừng như mọi việc “hai năm rõ mười” cả rồi – thế nhưng không, truyền thuyết có sức sống dai dẳng hơn mọi phân tích, mọi tài liệu, nhất là khi người ta đã quen với lối tuyên truyền “láo” của cả hai “nước anh em” là LX và TQ. Thế cuối cùng LX đã chiến thắng bằng vũ khí gì? “Grad” ư, hỏa lực rất mạnh đấy, nhưng truyền thuyết trong dân gian nói rằng không chỉ có một loại vũ khí giết người hàng loạt ấy tham chiến đâu. Và các nhà nghiên cứu, nhà báo của LX, TQ và phương tây vẫn cứ tiếp tục tìm ra chứng cứ cho điều đó, sự thật chả biết thế nào…
Truyền thuyết thứ nhất kể rằng LX đã dùng vũ khí laser – ai đã sống qua những năm tháng 60-70 dù chỉ ở Việt Nam thôi cũng sẽ nhớ, “laser” là một từ rất mốt bấy giờ, và LX đi đầu trong việc thiết kế vũ khí laser. Những nhân chứng sau này vẫn kể mãi về những xác chết bị đốt cháy còng queo biến dạng, những vũ khí khí tài bị đốt cháy rụi chứ không bị nổ tung… Truyền thuyết thứ hai khó tin hơn, nói về việc LX sử dụng vũ khí hạt nhân trong diện hẹp. Truyền thuyết thứ ba theo tôi là hoàn toàn có cơ sở (và tôi được nghe chính người dân vùng ấy từ cả 2 phía của đường biên nói tới không chỉ một lần dù đã năm chục năm trôi qua). Đó là LX sử dụng tới một thứ vũ khí hóa học bí hiểm, khi nó được tung ra kẻ thù lập tức bị chết ngay tại trận, và nó được sử dụng không chỉ ở đảo Damansky mà cả một dọc biên giới, vì lúc đó lực lượng quân sự quá chênh lệch, biên giới lại quá dài, không có cách khác nào có thể ngăn chặn bước tiến của quân TQ nữa. Thôi không đoán mò về vũ khí bí mật nữa, chỉ biết nó có uy lực đặc biệt, và TQ sợ, sợ lắm, sợ cho đến bây giờ vẫn sợ, sợ đến mức còn tin vào sự tồn tại của nó hơn cả dân Nga!
(Tôi đã ở vùng này nhiều năm, đi qua đi lại biên giới và luôn ngạc nhiên, rằng cả một chiều dai biên giới như vậy, với lèo tèo vài triệu dân so với diện tích bằng cả chục lần nước ta, làm sao LX và sau này là Nga vẫn bảo vệ lãnh thổ tốt như thế? Vâng, tất nhiên TQ không hết dã tâm đâu, vẫn ào ạt sang Viễn Đông để làm (và phá hoại về kinh tế): chặt rừng, săn hổ gấu, thu mua hải sản, lập chợ, buôn hàng hóa biên mậu… thôi thì chả có gì mà họ không dám làm. Nhưng suốt bao năm tôi chưa bao giờ nghe một vụ “mất cột mốc biên giới” nào của Nga, dù chỉ một mét đất TQ cũng không dám xâm lấn. Cũng như chưa bao giờ có chuyện tàu TQ hay Korea, Nhật Bản dám vào đánh cá trộm ở lãnh hải Viễn Đông của Nga, vào mua trộm thì may ra! Đơn giản là họ sợ, sợ lắm rồi…).

Và khi “người anh em XHCN” TQ bất ngờ mở cuộc chiến tranh xâm lược “người em” Việt Nam 2/1979 tức là đúng 10 năm sau Damansky thì chúng ta đã mất cảnh giác, chuẩn bị không hoàn toàn tốt và hình như quên mất bài học Damansky hay Trân Bảo đảo. Lại chẳng có trong tay vũ khí hủy diệt “Grad” chả khác nào An Dương Vương không có nỏ thần. Nhưng tinh thần anh dũng của quân và dân ta cũng như kinh nghiệm trận mạc suốt bao nhiêu năm đã cho chính kẻ xâm lược một bài học, cũng như không thể quên được sự giúp đỡ chí tình của một “người anh” khác. LX lúc đó ngoài việc tuyên bố ủng hộ chúng ta, còn giúp ta lập cầu hàng không chuyển quân thần tốc từ mặt trận K ra phía bắc. Hơn thế nữa LX tổ chức cuộc tập trận lớn nhất trong lịch sử cũng chính tại vùng đất xa xôi này, sang cả cao nguyên Gobi trên đất Mông Cổ, còn hạm đội Thái Bình Dương của LX được đưa vào báo động cấp cao nhất, sẵn sàng tham chiến. Có lẽ bài học Damansky còn in hằn quá rõ trong những cái đầu nóng của kẻ bành trướng, và hành động này của quân đội và nhân dân LX (cũng khá nhiều mất mát đau thương đấy) đã là một trong những nguyên nhân chính để quân TQ nhục nhã rút lui khỏi đất Việt Nam.

Nhưng thời thế thay đổi, hình như những sự kiện động trời 1969, 1979, 1989 của TQ không làm họ yếu đi mà ngược lại…

Tên gọi “Damansky” ngày nay chỉ còn trong sử sách và văn thơ. Trân Bảo đảo được TQ đưa vào danh sách Unesco “khu bảo tồn thiên nhiên”.

(Tham khảo:
https://www.youtube.com/watch?v=6leI3PmdCng
https://www.youtube.com/watch…

Bài hát “Sự hiền dịu” qua phần trình bày của Maria Kristalinskaya cũng được coi là dành tri ân các liệt sỹ của trận chiến Damansky:
https://www.youtube.com/watch?v=m2n4ZcWxlUg

Xin xem tiếp: “Cuộc gặp gỡ giữa Brezhnev và Ford tại sao lại diễn ra ở nơi chỉ cách Damansky 300 km?” và “1988 Liên Xô đã thay lòng đổi dạ với Việt Nam như thế nào”).
(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2194670253928233)