ÔNG LIÊN XÔ BÀ TRUNG QUỐC -1969

bien gioi lien xo trung quoc

ÔNG LIÊN XÔ BÀ TRUNG QUỐC -1969

(Trận chiến lớn nhất giữa Liên Xô và Trung Quốc đã ảnh hưởng thế nào đến chiến tranh Việt-Trung năm 1979?)

Lời giới thiệu: “Ông Liên Xô, bà Trung Quốc, ông đi guốc, bà đi giày, ông nhảy dây, bà đá bóng, ông đi tắm, bà cài then…” là một câu đồng dao của trẻ con miền Bắc những năm 60-70 của thế kỷ trước. Mà như lịch sử cho thấy những câu đồng dao của mọi dân tộc dù có vẻ ngô nghê nhưng đều ẩn chứa thông tin về những thời kỳ lịch sử đầy biến động, những sự kiện nội địa và quốc tế vô cùng đình đám. Và dù đã thuộc nằm lòng câu hát này, chỉ khi đã lớn lên, đã đi khắp bốn phương trời chúng ta mới bắt đầu hiểu láng máng về nó, về một bức tranh quan hệ vô cùng phức tạp giữa hai “người anh lớn” của chúng ta, giữa hai “đảng cộng sản anh em”, và hơn hết giữa hai đại cường quốc mà chúng ta cứ đơn giản nghĩ rằng họ đang cùng một trục, với kim chỉ nam là học thuyết Mác-Lê. Chúng ta có học được gì không ư, có vẻ như học chả được nhiều lắm đâu, nhất là với thân phận “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc”.


Mở đầu 1: QUAN HỆ XÔ-TRUNG:
Liên Xô chiến thắng trong chiến tranh thế giới 2, từ đó tạo tiền đề cho việc sinh ra nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trong vai trò người chiến thắng họ có thêm được một đồng minh khá chắc chắn (cùng phe XHCN cơ mà) lại là láng giềng, nên phải nói là thời gian đầu Liên Xô giúp đỡ Trung Quốc khá nhiều, cũng đúng thôi, Liên Xô còn giúp nhiều nước XHCN khác nữa là, toàn “đồng chí” cơ mà. Khi đó họ đang vượt xa Trung Quốc về khoa học kỹ thuật, thể thao văn hóa, uy tín quốc tế và tiềm năng quân sự thì khỏi nói rồi. Thế nên thời gian đó rất nhiều cán bộ Trung Quốc được đào tạo ở Liên Xô, vùng phía bắc ráp gianh thi Liên Xô giúp cho biến Harbin (Cáp Nhĩ Tân) thành trung tâm công nghiệp nặng, rồi còn có thể kể thêm ngành khai khoáng, thậm chí một phần nào đó của công nghiệp quốc phòng. Văn học Nga và Xô Viết và âm nhạc Nga được phổ biến rộng rãi (lan tỏa sang cả Bắc Việt Nam). Say sưa với thắng lợi, có vẻ như Liên Xô bỏ qua mất một điều: không hiểu những cái đầu của lãnh tụ Trung Quốc đang nghĩ gì…

Chiến tranh giữa hai miền của Triều Tiên nổ ra với ý đồ của Liên Xô mượn tay Bắc Triều Tiên để thống nhất bán đảo này, quân đội phương bắc đang thắng thế thì Mỹ và Liên Hiệp Quốc đưa quân vào can thiệp, thế cờ thay đổi hoàn toàn. Không thể để cho một quốc gia “tư bản” hình thành ngay bên nách mình Trung Quốc đã tung quân trợ giúp Bắc Triều Tiên. Thế cờ lai một lần nữa đảo ngược, và cuối cùng hòa ước phân chia ranh giới hai miền quay về vĩ tuyến 38 như trước kia. Không phải để giúp Liên Xô, mà ngược lại từ nay Bắc Triều Tiên không chỉ phụ thuộc vào sự trợ giúp của Liên Xô mà còn bị ảnh hưởng rất lớn của Trung Quốc nữa! “Tên sen đầm quốc tế” là USA phải thấy TQ như một lực lượng đáng gờm, chứ không còn là nước đàn em theo đuôi của LX nữa! Cách suy nghĩ, cách hành xử của TQ khi can thiệp vào cuộc nội chiến của nước lân bang mọi người có thấy giống ở đâu không ạ…? Chuyện đó chúng ta sẽ bỏ qua!

Chưa kịp quen hết với những thói quay quắt của Trung Quốc thì những thay đổi về nhân sự và chính trị của LX bị TQ đả phá tơi bời. Việc Nikita Khrushev tại đại hội đảng LX 1956 đả phá mạnh mẽ tệ sùng bái cá nhân (lãnh tụ Stalin) bị Mao coi là “phản bội”, lãnh đạo LX bị coi là “bè lũ xét lại” (từ này du nhập rất nhanh vào Việt Nam đấy). Ngược lại LX đả phá “bọn Maoist” với biết bao trò man rợ, ngô nghê kiểu “cách mạng văn hóa”, học Mao tuyển, “đại nhảy vọt”, diệt chim sẻ, cả nước làm luyện kim… TQ rút tất cả các sinh viên, chuyên gia của mình đang ở LX về nước, cao giọng đòi hỏi những thứ cực kỳ ngang ngược Chẳng hạn đòi sáp nhập Mông Cổ! Hay đòi Liên Xô phải trao ra bí mật chế tạo tàu ngầm hạt nhân cho TQ (xin nhớ công nghệ chế tạo bom nguyên tử là quà tặng của Stalin cho Mao đấy…)!? Hãy nhớ lại chính phủ Bắc Việt Nam đã phải vất vả thế nào để chiều lòng được cả “hai ông anh” mà nhất là ông anh láng giềng Trung cộng, trong khi “hai ông anh” giúp ta đầu tiên là chống Pháp, sau đó gây dựng “nền kinh tế mới XHCN” và rồi chống Mỹ và chế độ Việt Nam cộng hòa. TQ lúc nào cũng leo lẻo chê bai những ai chúng coi là không quán triệt đường lối Marx-Lênin-Mao nhưng khi năm 1968 Tiệp Khắc quyết tâm cải cách chính trị, từ bỏ con đường cộng sản (“mùa xuân Praha”) và đến 8/1968 Liên Xô chớp nhoáng tiến hành chiến dịch “Dunai” cùng các thành viên khối Varsava thực chất là xâm chiếm và đè bẹp chính quyền Dubcek thì TQ lại lên tiếng ủng hộ Dubcek (hoàn toàn không phải vì TQ “tiến bộ” hay “dân chủ” gì, đơn giản là “thích thì phê phán thôi” – TQ phê phán LX còn ác liệt hơn tất cả các nước phương tây nữa! TQ gọi đấy là “cuộc xâm lược man rợ” và “sự phản bội trắng trợn chủ nghĩa Mác-Lê”! Trong khi LX biện bạch và các nước XHCN khác đồng thanh: ”Các nước trong khối XHCN thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã tới để giúp đỡ nước Tiệp Khắc anh em”… Và LX tuyên truyền rộng rãi rằng “trước 8/1968 TQ chỉ từ chối cùng giúp đỡ nhân dân Việt Nam anh em, còn sau sự kiện “mùa xuân Praha” TQ đã hoàn toàn chuyển sang phe phản cách mạng”. Tức là đối với LX thì TQ đã “phản bội” và giờ đứng cùng một bè đảng với Mỹ, Tây Đức, Anh… là các nước “phản động”. Tuy nhiên sau đó vài tuần truyền thông của Liên Xô cố tình không đưa tin gì về phản ứng của lãnh đạo và nhân dân TQ về “mùa xuân Praha” – có lẽ Đảng CS LX không dám làm quá ầm ĩ vì “xấu chàng hổ ai” – nếu không khối XHCN sẽ lung lay mạnh lắm. Lạ hơn nữa cái logic của Mao Trạch Đông khi kết tội Brezhnev thông đồng với Washington để đàn áp dân chủ ở Tiêp Khắc…


Mở đầu 2: ĐẢO TRÂN BẢO (DAMANSKY) VÀ TRANH CHẤP LÃNH THỔ LX-TQ
Sa hoàng đã để lại một di sản khổng lồ với lãnh thổ bằng 1/6 diện tích đất trên quả địa cầu. Sau thế chiến II thậm chí LX không mất đất mà còn “ăn ra” với nửa đảo Sakhalin và mấy quần đảo lấy được của Nhật. Riêng với TQ đó là 7500 km chiều dài biên giới, mà phải nói rằng tuy rất tham lam và có số dân, số quân vượt trội nhưng quân đội Xô Viết quá “đáng sợ” thế nên LX chả mất cột cây số nào vào tay láng giềng phía nam. Trừ đảo Damansky…

Đó là một bãi bồi giữa con sông Ussury chia cắt lãnh thổ của LX và TQ ở vùng Primorye-Viễn Đông, Nga.Theo thông lệ quốc tế thì biên giới giữa hai nước phải là đường giữa sông, nhưng từ thời Sa hoàng Nga tuy bị thua Nhật tan tác ở vùng này, nhưng lại “át vía” được TQ thế là Sa hoàng cứ đòi đường biên giới là mép bờ nước về phía TQ cơ! Đành phải chịu đấy, TQ yếu mà! Đảo này trước kia nó là một phần của bờ sông Trung Quốc, bị dòng nước xói mòn nên thành ra dải cát giữa sông, thực ra nó bé tí (74 ha) và khi nào nước sông dâng cao thì chìm nghỉm, tuy thế Nga “đành hanh” bảo là của Nga! Phải chịu chứ biết làm sao chứ thực chất đây đúng là “mảnh đất chim ỉa” chả có lợi ích gì, đúng hơn so với việc sau này quan chức Việt Nam gọi HS-TS nhiều!

Năm 1949 khi Mao chủ tịch lần đầu tiên tới Matxcơva thăm nước LX – “người anh cả vĩ đại” và tất nhiên đề nghị Stalin giúp đỡ trong công cuộc xây dựng CNXH ở TQ. Khi nhận được lời hứa từ Iosiv Stalin Mao nhẹ nhàng hỏi thêm:

-vậy đến khi nào LX sẽ trả lại những lãnh thổ mà từ xa xưa vốn thuộc về Trung Quốc?

-những lãnh thổ nào nữa? Stalin ngán ngẩm hỏi sau một thời gian im lặng…

Mao đành giải thích đầu đuôi, từ thời Sa hoàng Alexey đệ nhị… Stalin nói một câu bất hủ mà Mao phải nuốt giận ra về, nhưng có lẽ chẳng bao giờ quên được:

-Bây giờ chúng tôi có những vị Sa hoàng mới rồi. Chúng ta là những người cộng sản, mọi thứ đều phải là của chung…

Đến khi 2 nước trở thành “XHCN anh em” rồi thì TQ mới cao giọng đòi đất, thực ra có lẽ để “nắn gân” “người anh em” LX hơn, chứ Mao Chủ tịch nói ngay tại đại hội ĐCS LX là “sẵn sàng hy sinh 300 triệu người TQ để làm cách mạng thế giới” còn riêng đối với LX thì “đất của tổ tiên người TQ trải dài từ Sibery cho tới Kamchatka” – tức là trong việc thực hiện mộng bá quyền của mình LX sẽ là vật chướng ngại lớn nhất!
LX đặt trạm biên phòng gần đấy, và vào mùa đông sông đóng băng thì bên trên đảo có độ một trung đội lính biên phòng chiếm giữ. Trong mọi cuộc đàm phán song phương cái tên “Damansky” hay tên TQ “Trân Bảo đảo” luôn được nhắc tới, TQ đòi còn LX chây ì! Càng ngày TQ càng gây sức ép, phía LX đếm được tới hơn 5000 vụ khiêu khích và vi phạm đường biên giới từ phía TQ chỉ riêng trong một năm (giống Lạng Sơn chưa?). Đầu tiên là nông dân (có thể là binh lính TQ cải trang) giả vờ lạc đường sang địa phận LX, thế rồi cãi lý om sòm rằng họ vẫn đang trên đất TQ đây chứ đâu, rồi sau này dân quân TQ và Hồng vệ binh liên tục đứng giương biểu ngữ, rủa xả đe dọa lính biên phòng LX, thậm chí có những lúc quân hai bên đánh nhau tay không như trong phim, nhưng lệnh từ cấp cao nhất tại điện Kremlin ban xuống: “đấu tranh hòa bình, cấm dùng vũ khí!”. Tình thế căng thẳng như vậy kéo dài nhiều năm, phía TQ toan tính nhiều phương án tấn công, phía LX có lẽ lâu ngày ảo tưởng về “người anh em” phương nam này chỉ dám nói chứ chả dám làm… Cũng phải nói thêm vì sao phía LX có vẻ như chủ quan: năm 1964 Khrushev muốn xoa dịu Mao nên hứa trả không chỉ Damansky mà còn nhiều đảo khác với tổng diện tích đến 20000 km2 cho TQ, nhưng Mao từ chối nhận quà tặng từ “kẻ phản bội” (Khrushev coi Stalin là phản bội, còn Mao coi Khrushev là phản bội). Vậy lí do gì mà từ chối món quà hậu hĩnh 20000 km2 rồi lại phải tấn công để đánh chiếm 0,73 k2 đảo không người, mà không sớm thì muộn nếu đấu tranh ngoại giao lâu lắm cũng chỉ vài năm rồi TQ sẽ đòi được mà không phải đổ máu? Chỉ có thể giải thích rằng: Mao từ chối “quà tặng” (mà cái ông Khrushev này cũng hay tặng đất vung vinh lắm cơn!) chỉ vì muốn tỏ ra đối với “tay sen đầm quốc tế” Mỹ là mình chả lệ thuộc vào CCCP, chả coi LX ra gì và sắn sang tấn công thậm chí cả LX bằng quân sự! Bức tranh quan hệ quốc tế thực sự rối ren: LX và TQ đều đang là đối thủ với Mỹ tuy không tham gia trực tiếp vào chiến trường Việt Nam, Nixon đang ôm lại vũng lầy Việt Nam khá là bế tắc, còn cả Mao và Brezhnev đều liên tục phát tín hiệu muốn đón tiếp, gặp gỡ tổng thống Mỹ ngay tại nước mình! Thế cờ đó được “cánh tay phải” của Nixon là ngoại trưởng Kissinger tận dụng tối đa… Thay cho Khrushev, TBT Brezhnev dù sao cũng kịp cẩn thận tăng cường sức mạnh quân sự của quân đội LX tại Viễn Đông lên mức tối đa!


CHIẾN SỰ:
Việc triển khai chiến sự với LX được tính toán kỹ lưỡng, cả thời điểm, số lượng quân tham gia – có nguồn tin bảo rằng chính phủ LX được nguyên soái Lâm Bưu báo từ trước, có lẽ chỉ không biết được chính xác là bao giờ thôi.
Cuối tháng 2/1969 ở vùng Primorye mới tiến hành tập trận, kết thúc xong các đơn vị và khí tài chính được kéo sâu vào cách biên giới ít nhất cũng 50 km. Mọi người đều mệt mỏi, tinh thần thả lỏng sau mấy ngày vất vả… Đêm mồng 1, rạng sáng mồng 2 tháng 3 năm 1969 một toán quân TQ trang bị súng ống đầy đủ âm thầm kéo tới hòn đảo này trên mặt băng (thời gian này mùa đông, nhiệt độ thường 20-30 độ âm, dòng sông Ussuri luôn đóng băng). Khi bộ đội biên phòng LX phát hiện ra, cũng tưởng như mọi lần thôi, họ tiến ra để “đấu lý” và thế là theo hiệu lệnh của tên chỉ huy lính TQ xả súng tiêu diệt, gần như cả toán quân 32 người của chỉ huy – thượng úy Ivan Strelnikov bị xóa sổ hoàn toàn. Không những thế sau đó thân thể của họ còn bị băm vằm, móc mắt… vô cùng dã man. Hạ sỹ Akulov bị thương và bắt làm tù binh, sau bị tra tấn dã man cho đến chết (vết tích còn rõ khi bên TQ trao trả lại xác cho phía LX). Duy nhất một binh nhì Genadi Serebrov thoát thân được. Toán quân thứ hai của Rabovich bị rơi vào vòng vây của địch. Nhưng lúc đó tốp quân của hạ sĩ Yuri Babansky bắt đầu tiến từ đồn biên phòng ra, và đã biết về tổn thất hoàn toàn của hai toán quân đi trước. Đáng nhẽ có thể quay lại đồn cố thủ để chờ viện binh nơi khác đến nhưng quả thực họ vô cùng căm thù vì đòn đánh ác độc và bất ngờ của quân TQ, nên dù rất ít người nhưng họ đã chuyển thành thế tấn công, trận chiến đẫm máu kéo dài khoảng 5 giờ đồng hồ, số lượng người chết các bên là: LX mất 31 lính biên phòng, bị thương 14 – phía TQ kéo về 248 xác chết (sau này truyền thông TQ thông báo là chết có 3 người). Quân TQ bị đẩy lùi (Yuri Babansky là người Xô Viết đầu tiên sau thế chiến lần thứ II được nhận danh hiệu “anh hùng Liên Xô” trong chiến đấu), nhưng họ ém sát biên giới trung đoàn 24 (một trung đoàn của TQ có tới 5000 lính). Mọi việc ngày 2/3 được báo cáo lên Alexey Kosygin (Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng) – vốn khá ôn hòa, chậm chạp. Phía LX cử sư đoàn cơ động 135 tới gần đảo Damansky với một vũ khí mà tại thời điểm đó còn đang coi là tuyệt mật…

Chiến sự tạm dừng, nhưng cả thế giới ngỡ ngàng. Một nước có hơn ¼ dân số thế giới tấn công vũ trang một nước láng giềng có lãnh thổ bằng 1/6 thế giới – mà họ đều là “anh em XHCN” và đều nắm giữ vũ khí hạt nhân – phải nói là ngay tổng thống Nixon cũng bị quá bất ngờ. TQ già mồm thì gọi đấy là “chiến dịch phòng vệ hợp pháp” bởi LX khiêu khích, còn giới lãnh đạo LX thì cố gắng che chắn thông tin, chỉ coi đây là một xung đột không đáng có ở biên giới giữa vài tay lính biên phòng của cả đôi bên. Matxcơva vẫn chỉ đạo vùng quê hẻo lánh Primorye ấy phải “không mắc mưu khiêu khích của địch, tránh xung đột vũ trang trên diện rộng” và hàng ngày đưa ra rất nhiều chỉ đạo mâu thuẫn kỳ lạ, chứng tỏ ngay ở thủ đô LX các lãnh đạo cũng chưa sẵn sàng và chưa thống nhất được cách ứng phó với TQ.

Mỹ cũng rất ngỡ ngàng, Kissinger có lẽ là người hiểu rõ nhất nguy cơ tiềm ẩn: LX đang hết sức nhún mình tránh chiến tranh với TQ, nhưng khi có rất nhiều ý kiến khác nhau của Bộ chính trị về độ tàn ác, dã man của lính TQ điều này cho thấy nếu chiến sự còn xảy ra nữa thì hoàn toàn có thể đến lúc nào đó Matxcơva “điên lên” và chỉ cần họ bắn một quả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân vào Bắc Kinh thì phía TQ không có khả năng bất kỳ nào để chống trả, sẽ tiêu hủy hoàn toàn ít nhất ½ thủ đô TQ (lúc đó mới có 7 triệu dân). Còn về phía TQ tuy mới có bom khinh khí (ở chế độ thử nghiệm thành công) nhưng họ luôn kém về việc làm sao đưa bom hay đầu đạn tới đích được, và với một lãnh thổ bao la như LX thì TQ chả thể tiêu diệt được thủ đô Matxcơva hay trung tâm kinh tế chính trị lớn nào. Nhưng một cuộc chiến hạt nhân như vậy hoàn toàn chả đem lại lợi ích gì, kể cả cho Mỹ. Thậm chí có khả năng chiến tranh thế giới lần thứ 3 sẽ xảy ra chỉ vì một bãi bồi không ai biết – Damansky, và thế là có lẽ lần đầu tiên Mỹ đã rất cố gắng về mặt ngoại giao để dàn hòa hai “anh em XHCN” là LX và TQ! Nhưng có lẽ cũng không hiệu quả lắm, bằng chứng là TQ lại ra đòn chớp nhoáng và bất ngờ một lần nữa, lần này thời điểm tấn công còn được lựa chọn kỹ hơn…

Ngày 14/3 vào lúc 15h (giờ địa phương, còn ở thủ đô lúc này mới 9h sáng tức là khá sớm) Matxcơva ra lệnh rút toàn bộ quân khỏi đảo (có một trung đội ấy mà!). Lập tức lính TQ tràn lên chiếm toàn bộ đảo. Sau đó phía LX cử 8 xe bọc thép tiến về phía đảo Damansky, quân TQ vội tháo lui. Nhưng chỉ mấy tiếng sau, 20h lại có lệnh trên “quay lại đảo” – thế là lúc ấy bộ đội biên phòng mới quay lại đảo. Hôm sau khoảng 500 quân TQ tấn công đảo, với sự trợ giúp của khoảng 50-60 khẩu pháo và súng cối. Phía LX đáp trả quyết liệt, họ có gần 60 chiến sĩ và 4 chiếc xe bọc thép, 4 chiếc xe tăng T-62. Nhưng sau mấy giờ đấu súng thì sự chênh lệch về lực lượng được thể hiện rõ ràng, quân LX đành lùi lên bờ sông bên mình, vài chiếc tăng bị bắn cháy, đạn dược cũng đã cạn. Tình thế vô cùng nguy cấp: Bộ chính trị thì không cho phép đánh trên diện rộng (tức là cấm sử dụng tới quân đội mà chỉ lính biên phòng thôi) mà như thế quân TQ đông gấp nhiều lần có thể đánh chiếm và tiêu diệt đồn biên phòng đã cạn kiệt súng đạn! Trong tình thế đó trung tướng chỉ huy quân khu Viễn Đông Oleg Losik đã dũng cảm chịu trách nhiệm (chứ không chờ đợi lệnh từ Matxcơva nữa) ra lệnh đưa vào trận vũ khí bí mật là dàn hỏa tiễn phản lực “Grad” BM-21 (“Mưa đá”). Chỉ dập xuống 10 phút, hỏa tiễn Grad đã tiêu diệt toàn bộ vũ khí, khí tài, thậm chí toàn bộ lực lượng chỉ huy của quân TQ không chỉ ở trên đảo mà còn sâu vào trong đất liền của TQ. Sau đấy còn vài đợt tấn công lẻ tẻ của quân TQ nhưng khá yếu ớt và cuối cùng TQ bỏ lại chiến trường không kèn, ko trống…

Muốn hình dung ra “Mưa đá” xin xem clip sau:
https://www.youtube.com/watch?v=p-lGwyySrwY
https://www.youtube.com/watch?v=mzfLZcE3Ze8

Ngày chiến sự được chọn không phải tình cờ. Hôm đó khai mạc giải vô địch thế giới về khúc côn cầu trên băng tại Thụy Điển, và mọi sự chú ý của người dân Liên Xô đang hướng cả về Stokholm. Đó không còn là thể thao đỉnh cao nữa, mà là sân chơi chính trị: cả LX và Tiệp Khắc đều rất yêu thích môn chơi này, và Tiệp có lẽ chỉ có thể “trả thù” được LX trong dịp này nữa thôi – đội tuyển của họ rất mạnh. Chưa kể Canada, Mỹ, rồi ngay cả Thụy Điển, Phần Lan cũng mạnh đều. Về phía LX họ có đội mình mạnh với ngôi sao trẻ Kharlamov, nhưng cảm nhận của họ về trách nhiệm chính trị trước nhà nước và nhân dân rất lớn lao, rất khó tập trung. Khoảng 100 nghìn dân Tiệp đã chạy sang Bắc Âu sau sự kiện “mùa xuân Praha” và họ điên cuồng cổ vũ cho Tiệp tất nhiên rồi, và bất cứ đội nào gặp với đội tuyển LX. Đám đông điên cuồng hô khẩu hiệu chống LX, và họ hô vang tên “Damansky”! Nhưng đúng vào ngày chiến sự 15/3/1969 đội tuyển Nga thắng Mỹ với tỷ số không tưởng 17:2!

(Kể thêm cho người yêu thể thao: giải năm đó đáng nhẽ cần tiến hành ở Praha, nhưng vì có sự kiện “mùa xuân” kia nên phải chuyển địa điểm. Cách chơi thay đổi, chỉ có có 6 đội và đánh thành 2 vòng, tất cả đều gặp nhau 2 lượt. Chưa bao giờ Canada và Mỹ lại thua thảm như lần này, trong khi đó Canada đang giữ kỷ lục về số lần vô địch. Vô cùng căng thẳng và kịch tính từ đầu giải tới cuối giải, nhất là những trận LX gặp Tiệp, 2 lần LX đều thua dưới áp lực quá lớn của khán đài và sự khiêu khích của đối phương. Tiền đạo Tiệp Golonko khi ghi bàn xong cầm gậy kiểu như cầm tiểu liên lia chĩa vào người các cầu thủ LX cả trên sân và trên ghế dự bị như đang nhả đạn, trọng tài và ban tổ chức cũng làm ngơ. Cuối giải 3 đội bằng điểm nhau: CCCP-Thụy Điển-Tiệp và LX đoạt huy chương vàng chỉ nhờ vào chỉ số phụ mà thôi, cực kỳ may mắn! Tuy vậy đó là thành tích phi thường nếu xét trong hoàn cảnh căng thẳng chính trị lúc đó. Firsov là tiền đạo LX được bình chọn là người chơi hay nhất giải! Canada tự ái vì thua tới mức bỏ tham gia các giải những năm sau, chờ cho đến khi Liên đoàn phải chấp nhận cho các cầu thủ chuyên nghiệp tham gia, lúc đó mới chịu quay lại…).

SAU CUỘC CHIẾN:
Bởi đảo Damansky ở nơi quá hẻo lánh nên cộng đồng quốc tế chỉ có thể theo dõi tin tức qua truyền thông của LX và TQ, mà 2 nguồn đó thường rất trái ngược nhau nên nói chung chả biết bên nào mà ủng hộ. LX mất 58 người (trong đó có 4 sĩ quan), TQ mất từ 600 đến 3000 người, con số chính xác cho đến bây giờ vẫn chưa được bạch hóa. Cộng với việc phía LX tiêu diệt rất nhiều khí tài của TQ, còn TQ bắn hạ được mấy xe bọc thép và đánh chìm được một chiếc T-62 xuống đáy sông Ussuri. Sau khi đình chiến phía TQ tìm cách kéo chiếc xe tăng lên bằng được (chiến lợi phẩm mà) còn phía LX dùng súng bắn tỉa bắn để ngăn chặn và cũng định kéo lên để bảo toàn… cuối cùng khi băng tan TQ cũng đem được nó về bất chấp ý định dùng súng cối bắn phá để không cho lọt vào tay địch, chiếc xe tăng xấu số này được TQ vừa triển lãm vừa để làm mẫu bắt chước chế tạo T-62 (vì LX cho TQ mẫu tăng chỉ đến T-59 sau đó quan hệ 2 “anh em” xấu đi rồi). Nhưng bắt chước về khí tài chưa bao giờ là chuyện dễ – xe tăng “nhái” này mang ký hiệu WZ-122A “San Ye” và có một số “cải tiến” từ phía TQ, nhưng mất mấy năm cải tiến mà cả 122A và 122B đều cho thấy không hề thích hợp với điều kiện chiến trường…

Hai bên vẫn còn bắn nhau qua lại cho tới tận 10/9 thì có quyết định đình chiến, dành cho ngày đàm phán rất quan trọng vào hôm sau. Hôm sau 11/9 sau khi sang Hà Nội để dự lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường về Alexey Kosygin bay rẽ qua Bắc Kinh, đàm phán và ký với người đồng cấp Chu Ân Lai Hiệp định về việc chấm dứt những hành động thù địch, trong đó thống nhất 2 bên không đưa quân lên đảo Damansky. Cuộc đàm phán tiếp theo 20/10/1969 thống nhất xem xét lại toàn bộ biên giới 2 nước, và trong đó đảo Damansky sẽ thuộc về TQ vào năm 1991! Những gì người lính biên phòng đã phải hy sinh xương máu để bảo vệ tại sao bên ngoại giao lại có thể dễ dàng đưa vào tay đối thủ như vậy quả là không dễ hiểu – chỉ có một giải thích sau đó 40 năm có vẻ có chút căn cứ. Theo loạt bài này của “Le Figaro” hay “South China Morning Post” (Hồng Kông) thì 5 ngày trước đó thế giới đứng trước một thảm họa hạt nhân: LX chuẩn bị đòn hạt nhân giáng xuống TQ, còn Mỹ khi biết được đã tuyên bố sẽ bác bỏ thỏa thuận hạt nhân đã ký với LX, và sẽ tấn công cùng lúc 130 thành phố lớn nhỏ của LX. Chiến tranh thế giới lần thứ 3 bằng vũ khí hạt nhân nnày chắc chắn sẽ đẩy loài người về thời kỳ đồ đá… Và thế là các cuộc đàm phán tay đôi, tay ba đã cứu nhân loại (khỏi chính họ chứ ai!). Còn chúng ta đâu có biết!

Sau chiến sự KGB tiến hành thẩm tra hành động của từng người lính đã tham gia chiến đấu, bất kể còn sống, bị thương hay đã hy sinh. Kết quả cho thấy: không một người lính nào hèn nhát, không ai có một ý định nào đầu hàng hay tháo chạy, còn các chỉ huy (có những người đã từng tham gia chiến tranh thế giới lần thứ II) là những tấm gương sáng cho lớp trẻ. Chính Yuri Andropov khi đó nắm quyền KGB – một người nổi tiếng rất “tiết kiệm” danh hiệu và huy chương – đã đề cử cho các chiến sĩ biên phòng vụ Damansky 5 người nhận “anh hùng LX” và 125 huân huy chương các kiểu – và qua đây cũng cho TQ thấy rõ định hướng tương lai của KGB cũng như LX nói chung đối với kẻ láng giềng tráo trở là TQ, rằng LX sẽ vô cùng “rắn” đấy.

1972 ở Bắc Kinh Mao gặp Nixon. Sau đó Nixon sẽ gặp lãnh tụ LX Brezhnev ở Matxcơva. Chủ đề chính có lẽ không nói thì ai cũng biết: giải trừ vũ khí hạt nhân, bài học Damansky và có lẽ cả bài học Việt Nam nữa. Thế giới đã đổi khác hoàn toàn sau sự kiện Damansky, và thậm chí bây giờ cũng chả còn Damansky nữa, chỉ còn Trân Bảo đảo. Và những bài học đáng ra không thể nào quên…

VÌ SAO?
Nhưng vì sao TQ đã tấn công cái đảo “chim ỉa” Damansky ấy, cho đến ngày hôm nay các nhà lịch sử và chính trị gia vẫn còn phải vò đầu bứt tai mà khó hiểu. Người duy nhất biết là Mao Chủ tịch đã đem theo bí mật xuống mồ. Dự đoán của tác giả (tất nhiên là cũng dựa trên những phân tích của người đi trước thôi) như sau:
Năm 1969 trong nước Mao đang gặp khá nhiều khó khăn như kinh tế kiệt quệ, chạy đua vũ trang tốn kém, quan hệ quốc tế hầu như chả có gì. Để nâng uy tín hay giá trị của mình trên trường quốc tế Mao phải “làm một vụ” gì đó đình đám để thế giới phải giật mình, Mỹ và phương tây phải nể mặt, ngay trong nước khi có chiến sự thì xử lý các vấn đề nội bộ cũng có quyền cao hơn hẳn. Trong khi Brezhnev và Nixon định bắt tay nhau chia đôi thiên hạ thì Mao không thể thúc thủ đứng nhìn. Tóm lại là một logic rất “Á Đông” mà người phương tây khó mà hiểu được, bởi vì Liên Xô sẽ thua (vừa bất ngờ vừa đông quân kiểu gì chả thắng) mà như thế uy tín của LX sẽ giảm sút nghiêm trọng (không phải chỉ với Mỹ hay Tây Âu đâu, ngay cả đối với “người em” Việt Nam nếu “anh cả” thua “anh hai” thì phải biết nghe lời ai rồi chứ…). Tức là bất chấp đạo lý, cuộc chiến này sẽ đượcgiữ ở mức độ “xung đột” thôi chứ chưa phải “chiến tranh” nhưng sẽ đem lại cho TQ và cụ thể là chính phủ Mao lợi đơn lợi kép. Chỉ có điều “người tính không bằng trời tính” dù người đó có là Mao Trạch Đông đi chăng nữa. TQ biết thừa Matxcơva sẽ không cho động binh (mà sẵn sàng hy sinh tính mạng của một vài chục, một vài trăm lính biên phòng – chính trị tàn khốc và bất nhân như vậy đấy) nên chắc thắng, nhưng không thể ngờ được tới sự chống trả quyết liệt rất anh hùng của chỉ mấy trăm lính biên phòng LX dù bị đánh úp bất ngờ. Và nhất là không thể ngờ được việc viên tướng Alexey Losik dám bất chấp lệnh trên để khai hỏa cứu đồng đội, càng không thể ngờ uy lực của “Grad” lại kinh hồn đến thế… Dù có thể coi rằng về sau TQ vẫn đạt được những mục đích đặt ra của mình, nhưng hệ lụy đối với TQ nói riêng và lịch sử thế giới nói chung là không hề nhỏ! (xem phần sau).

HỆ LỤY của DAMANSKY – TRÔNG NGƯỜI LẠI NGHĨ ĐẾN TA
Cho đến tận bây giờ tưởng chừng như mọi việc “hai năm rõ mười” cả rồi – thế nhưng không, truyền thuyết có sức sống dai dẳng hơn mọi phân tích, mọi tài liệu, nhất là khi người ta đã quen với lối tuyên truyền “láo” của cả hai “nước anh em” là LX và TQ. Thế cuối cùng LX đã chiến thắng bằng vũ khí gì? “Grad” ư, hỏa lực rất mạnh đấy, nhưng truyền thuyết trong dân gian nói rằng không chỉ có một loại vũ khí giết người hàng loạt ấy tham chiến đâu. Và các nhà nghiên cứu, nhà báo của LX, TQ và phương tây vẫn cứ tiếp tục tìm ra chứng cứ cho điều đó, sự thật chả biết thế nào…
Truyền thuyết thứ nhất kể rằng LX đã dùng vũ khí laser – ai đã sống qua những năm tháng 60-70 dù chỉ ở Việt Nam thôi cũng sẽ nhớ, “laser” là một từ rất mốt bấy giờ, và LX đi đầu trong việc thiết kế vũ khí laser. Những nhân chứng sau này vẫn kể mãi về những xác chết bị đốt cháy còng queo biến dạng, những vũ khí khí tài bị đốt cháy rụi chứ không bị nổ tung… Truyền thuyết thứ hai khó tin hơn, nói về việc LX sử dụng vũ khí hạt nhân trong diện hẹp. Truyền thuyết thứ ba theo tôi là hoàn toàn có cơ sở (và tôi được nghe chính người dân vùng ấy từ cả 2 phía của đường biên nói tới không chỉ một lần dù đã năm chục năm trôi qua). Đó là LX sử dụng tới một thứ vũ khí hóa học bí hiểm, khi nó được tung ra kẻ thù lập tức bị chết ngay tại trận, và nó được sử dụng không chỉ ở đảo Damansky mà cả một dọc biên giới, vì lúc đó lực lượng quân sự quá chênh lệch, biên giới lại quá dài, không có cách khác nào có thể ngăn chặn bước tiến của quân TQ nữa. Thôi không đoán mò về vũ khí bí mật nữa, chỉ biết nó có uy lực đặc biệt, và TQ sợ, sợ lắm, sợ cho đến bây giờ vẫn sợ, sợ đến mức còn tin vào sự tồn tại của nó hơn cả dân Nga!
(Tôi đã ở vùng này nhiều năm, đi qua đi lại biên giới và luôn ngạc nhiên, rằng cả một chiều dai biên giới như vậy, với lèo tèo vài triệu dân so với diện tích bằng cả chục lần nước ta, làm sao LX và sau này là Nga vẫn bảo vệ lãnh thổ tốt như thế? Vâng, tất nhiên TQ không hết dã tâm đâu, vẫn ào ạt sang Viễn Đông để làm (và phá hoại về kinh tế): chặt rừng, săn hổ gấu, thu mua hải sản, lập chợ, buôn hàng hóa biên mậu… thôi thì chả có gì mà họ không dám làm. Nhưng suốt bao năm tôi chưa bao giờ nghe một vụ “mất cột mốc biên giới” nào của Nga, dù chỉ một mét đất TQ cũng không dám xâm lấn. Cũng như chưa bao giờ có chuyện tàu TQ hay Korea, Nhật Bản dám vào đánh cá trộm ở lãnh hải Viễn Đông của Nga, vào mua trộm thì may ra! Đơn giản là họ sợ, sợ lắm rồi…).

Và khi “người anh em XHCN” TQ bất ngờ mở cuộc chiến tranh xâm lược “người em” Việt Nam 2/1979 tức là đúng 10 năm sau Damansky thì chúng ta đã mất cảnh giác, chuẩn bị không hoàn toàn tốt và hình như quên mất bài học Damansky hay Trân Bảo đảo. Lại chẳng có trong tay vũ khí hủy diệt “Grad” chả khác nào An Dương Vương không có nỏ thần. Nhưng tinh thần anh dũng của quân và dân ta cũng như kinh nghiệm trận mạc suốt bao nhiêu năm đã cho chính kẻ xâm lược một bài học, cũng như không thể quên được sự giúp đỡ chí tình của một “người anh” khác. LX lúc đó ngoài việc tuyên bố ủng hộ chúng ta, còn giúp ta lập cầu hàng không chuyển quân thần tốc từ mặt trận K ra phía bắc. Hơn thế nữa LX tổ chức cuộc tập trận lớn nhất trong lịch sử cũng chính tại vùng đất xa xôi này, sang cả cao nguyên Gobi trên đất Mông Cổ, còn hạm đội Thái Bình Dương của LX được đưa vào báo động cấp cao nhất, sẵn sàng tham chiến. Có lẽ bài học Damansky còn in hằn quá rõ trong những cái đầu nóng của kẻ bành trướng, và hành động này của quân đội và nhân dân LX (cũng khá nhiều mất mát đau thương đấy) đã là một trong những nguyên nhân chính để quân TQ nhục nhã rút lui khỏi đất Việt Nam.

Nhưng thời thế thay đổi, hình như những sự kiện động trời 1969, 1979, 1989 của TQ không làm họ yếu đi mà ngược lại…

Tên gọi “Damansky” ngày nay chỉ còn trong sử sách và văn thơ. Trân Bảo đảo được TQ đưa vào danh sách Unesco “khu bảo tồn thiên nhiên”.

(Tham khảo:
https://www.youtube.com/watch?v=6leI3PmdCng
https://www.youtube.com/watch…

Bài hát “Sự hiền dịu” qua phần trình bày của Maria Kristalinskaya cũng được coi là dành tri ân các liệt sỹ của trận chiến Damansky:
https://www.youtube.com/watch?v=m2n4ZcWxlUg

Xin xem tiếp: “Cuộc gặp gỡ giữa Brezhnev và Ford tại sao lại diễn ra ở nơi chỉ cách Damansky 300 km?” và “1988 Liên Xô đã thay lòng đổi dạ với Việt Nam như thế nào”).
(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2194670253928233)

Trump applied his familiar tactics

Trump applied his familiar tactics

Trump applied his familiar tactics: Losing but claiming he won. The United States had lost its belly in the trade war with China, and looking back on more than two years in power, Trump almost failed to achieve any achievement apart from breaking Obama’s efforts.



Actually, he also talked about Trump’s inevitable failure in this trade war.

It was more than half of the term, but looking back: The border wall could not be built, the trade deficit with China increased, the national debt increased to a record number, could not control China’s growth rate, did not What is Russia, and destroy Europe.

The problem is that Trump recognizes the US presidency as a CEO chair, with specific business objectives, with a team of executives who are knowledgeable and energetic, always listen to the boss, whoever rejects it, chases ; however, Trump was wrong, being another King as CEO, and the art of King was long pointed out by the Chinese people, it only fit in 2 words: Vo Vi.


Being a King means not doing anything, but doing everything, standing below all, but above all. The King was like the heart of a storm, always peaceful, quiet, peaceful, but controlling even a giant power whirling around him. Look at my General’s house, I know what it is to be a King. Xi Jinping of China is also a mirror that cannot be brighter than being a King.

And Trump is only at the level of a multi-level salesman, a new marketer, a girl who sells a grade house to Vincom, not even equal, because she cannot sell any houses. Trump that made Mr. Vuong was fired for a long time.


Yes, he was an error of democracy, an accident of the American elite, and a savior for the Chinese, because he ruined the world’s faith in the US government, breaking the belief between Western countries, and help the patriotic spirit of the Chinese Dragon rise.

May he be entitled to the full age of heaven!

(Thienluong FB)

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN – P.1

NÚI THIÊNG CỦA CẢ DÂN TỘC TRIỀU TIÊN  – P.1

Lời nói đầu: nhân sự kiện lãnh đạo 2 miền của bán đảo Triều Tiên đang đàm phán hòa bình khá triển vọng tôi xin kể lại câu chuyện lan man của bản thân tôi hơn chục năm trước, khi đó tôi mới bắt đầu có khái niệm rõ ràng hơn về dân tộc này – một dân tộc cũng đầy vinh quang và cay đắng. Chỉ là một góc nhìn cá nhân, không đầy đủ và nhiều cảm tính…


Mùa đông năm ấy khá lạnh, tôi đang làm ăn ở vùng Viễn Đông (Nga) xa xôi thì vướng cái Tết của Trung Quốc, coi như cả tháng dân Tàu nghỉ, mà như thế công việc bên Nga cũng coi như “đóng băng” thế là đâm rảnh rỗi. Có chú đồng hương lấy vợ Nga gốc Triều (tại sao bảo là gốc Triều chứ không là gốc Hàn Quốc lúc đó tôi cũng chả rõ, nhưng tất cả người Việt ở đấy gọi thế!) rủ về “quê” chơi, đi săn bắn và thăm họ hàng, thế là lên đường. Có mấy anh em Việt Nam, thêm chú “tây” nhưng thực ra là anh vợ chú em kia, tức là cũng Nga gốc Triều nốt, đi cùng vừa lái xe vừa kể chuyện. Dọc đường chả biết nói chuyện gì, mấy trăm km hai bên toàn rừng với tuyết, thế là lấy chuyện “Triều Tiên” ra làm “đồ nhắm”, hóa ra mình biết về chuyện dân Triều này quá ít thật (ngay chú tây cũng bảo nó chả biết mấy, chủ yếu nghe đời trước kể lại thôi, còn trẻ mà!). Nó kể mà anh em Việt Nam cứ mắt tròn mắt dẹt nghe, à hóa ra là như vậy…

“… Từ thế kỷ 19 thì vùng Viễn Đông này đã được đặt dưới sự đô hộ của Sa Hoàng rồi, đế quốc Nga đã vươn ra đến Thái Bình Dương, giáp với vùng Mãn Châu Lý, Trung Quốc, Hàn Quốc (cứ tạm coi Korea là Hàn Quốc nhé!). Nước Nhật lúc đó mạnh lên nhanh chóng, và Hàn Quốc thì bị mấy năm mất mùa đói kém khủng khiếp, nhất là đợt 1860, thế là dân bắt đầu chạy nạn từ Hàn Quốc qua Mãn Châu Lý rồi sang Nga, sau 1910 còn chạy cả giặc Nhật hung ác nữa (chạy sang tị nạn rồi, nếu quay về sẽ bị chém đầu!). Hàng trăm ngàn dân gốc Triều Tiên đã chạy loạn sang sinh sống không chỉ ở vùng Viễn Đông (với thủ phủ Vladivostok) mà còn chạy tới cả vùng gần Amur nữa (Khabarovsk). Bởi vùng đó thưa dân nên Sa Hoàng cũng không hạn chế gì nhiều việc “tỵ nạn” vì đói, vì dịch bệnh, thiếu đất hay bị đàn áp này, dân Triều cùng dân gốc Trung Quốc và nhiều sắc dân khác nữa sống khá hòa thuận ở một vùng rộng lớn này, nộp thuế cho Sa Hoàng, vẫn giữ được tiếng nói và thuần phong mỹ tục của mình, công lớn nhất của họ là trồng lúa, chứ xưa kia vùng này đâu có lúa gạo gì. Họ được nhập quốc tịch Nga, sau này là Liên Xô, cũng bởi vùng này ít dân nên CCCP muốn nâng cao sức mạnh phòng thủ tại đây (thời đầu thế kỷ 20 Anh, Pháp, Hà Lan, Nhật đều rất ráo riết hoạt động quân sự ở vùng này) – nhất là sau khi Hàn Quốc bị Nhật xâm chiếm. Có thể nói là dân Triều Tiên là sắc dân được “Nga hóa” dễ dàng nhất, sau này tổng số lên đến hơn nửa triệu người!
(Có thể kể thêm để mọi người biết sự khổ cực của người dân Hàn Quốc: dưới ách đô hộ của Nhật họ đã vượt biên, một số ở phía bắc có thể đi đường bộ, còn lại đa số trốn trong các hầm tàu để sang được tới cảng Vladivostok, sau đó các “thuyền nhân” này lên bờ xin tị nạn ở Nga, chấp nhận làm bất cứ công việc nặng nhọc nào để tồn tại được và mong ngóng ngày đoàn tụ với gia đình, người thân! Một số sống dưới ách của Nhật ở phần bắc đảo Sakhalin thì tìm cách trốn được sang phần phía nam do chính quyền Xô Viết nắm giữ…).

Cả một “hội đồng hương” đang sống yên lành như thế, đã có mấy thế hệ con cái được sinh ra trên đất Nga thì đến những năm trước của chiến tranh thế giới lần thứ hai, tình hình có vẻ căng thẳng, Đức ngày càng lộ rõ ý định phục thù, còn đằng đông này Nhật Bản càng xưng hùng xưng bá. Liên Xô coi giao tranh với Đức thì có thể tránh được, chứ với Nhật thì kiểu gì cũng sẽ đụng độ (hãy nhớ lại công trạng vô cùng to lớn của “Người tình báo vĩ đại” – trả lời CHUẨN mỗi câu hỏi: Nhật có đánh không? Thế thôi, nhưng là sau này…). Thế là trùm mật vụ KGB Beria ra lệnh đầu tiên là quản lý thật chặt tất cả người gốc Triều – Liên Xô một mặt muốn dựa vào dân Triều để chống Nhật, nhưng mặt khác trớ trêu thay cũng coi họ là dân gốc Nhật (bởi Nhật chiếm Hàn Quốc rồi còn đâu!) thế nên cũng lại sợ Nhật có nội ứng là dân Triều ở Nga! Thế rồi đến 9/1937 Stalin cho lệnh “di dời” toàn bộ số người gốc Triều từ Viễn Đông và Pre-Amur, kể cả từ đảo Sakhalin, và đúng theo truyền thống đã làm là “triệt để” của Stalin, 128 chuyến tàu hỏa đầy nhóc – họ được chuyển đến vùng Trung Á sống, tất cả hơn 170 nghìn người! Và chuyển đi rất xa (để không còn liên quan gì đến nơi “chôn rau cắt rốn” nữa!): đa số ở lại Uzbekistan (thủ phủ Tashkent) và một phần rơi rớt ở Kazakhstan – từ đó mấy nước cộng hòa này biết trồng lúa nước, còn ở Viễn Đông thì nghề lúa nước thất truyền luôn. Đi bằng tàu hỏa, hơn chục ngàn km, dễ hiểu rằng họ không có đường quay trở lại, được phép mang theo tài sản đi! Nhưng trước khi Liên Xô chính thức giao tranh với Nhật năm 1945 Beria ký thêm một lệnh nữa, coi tất cả số người gốc Triều đó chính thức là bị đi đầy! Tức là khi có chiến tranh thì họ không được ra trận (trong cái rủi cũng có điều may mắn đó chứ!) còn trong thời bình thì không được làm ngành an ninh, cũng như tuy không có quy định nào nhưng người gốc Triều khó mà được làm “thủ trưởng” ở mọi ngành nghề, mặc dù họ chính thức được “tha” vào giữа những năm 50, cũng nhờ vào Khrushev. Những người gốc Hàn này tự gọi mình bằng một cái tên vừa đầy tự trọng nhưng vẫn đượm buồn: “Kore Saram”…”.

Còn đoạn lịch sử sau đó thì chúng tôi cũng không khó mà đoán ra: bố mẹ của chú “Nga gốc Triều” này cũng sinh ra ở Tashkent, ở nơi cực nóng ấy họ hàng người ta vẫn cố trồng lúa, nuôi heo – chăm chỉ thì khó ai bằng họ được, và vẫn duy trì những món ăn, tập tục của dân Hàn Quốc, thế nhưng đến đời anh em chú tây này là không còn biết mấy tiếng Hàn nữa! Rồi đến những năm “perestroika” người gốc Triều bắt đầu đi khắp nơi kiếm cách làm ăn. Có lẽ nhiều người Việt ở Moscow những năm 87-90 vẫn nhớ đến sự xuất hiện của một quán ăn Triều Tiên với đội ngũ toàn người Triều đầu tiên với món ăn đặc trưng là mì lạnh “Kuksu” cũng là tên quán luôn, ở vùng Tây Nam của thủ đô. Có cơm, kimchi, thịt nướng – nói chung là một quán đặc Triều Tiên, nhưng thời đó là hiện tượng lạ, tuy đắt và khá xa trung tâm nhưng là nơi người Việt có tiền hay tụ tập, cũng như các quán Hà Nội, Cửu Long, Pekin… Liên Xô tan vỡ, lượng người Triều Tiên lên làm ăn ở thủ đô càng đông lên, dân Việt bắt đầu quen với các họ Pak, họ Le, họ Kim… và ở trong chợ Vòm cũng có một quán ăn Triều bán đúng món mỳ lạnh tryền thống ấy. Người Triều gốc Nga nổi tiếng nhất mà dân ta biết có lẽ vẫn là Viktor Tsoi – ca sỹ yểu mệnh đã rất nổi và mất sớm năm 1990.


Sau 1990 thì có phong trào “về quê” – Uzbekistan thành ra nước khác mất rồi, thế nên dân gốc Triều ào ạt trở về Nga, mà còn biết đi đâu nữa ngoài vài thành phố lớn ra thì về quê cũ là hợp lý nhất thôi, như nhà chú “Nga Triều” này thì ông bà, con cái, cháu chắt về hết lại “quê” – chính là vùng Viễn Đông. Phải nói lúc đầu họ cũng rất vất vả, vì đa số có được sinh ra ở đấy đâu, mọi thứ đều xa lạ, bắt đầu lại từ đầu. Nhưng dân gốc Triều cũng có nhiều thuận lợi, đầu tiên là họ vô cùng chăm chỉ và chả nề hà bất cứ việc gì, thứ hai là họ trông thì châu Á thôi chứ ngôn ngữ, giáo dục… đều chả khác gì người Nga cả. Và điều nữa mà ngay đến người Nga cũng khó mà có được, đó là tính họ hàng, cộng đồng rất cao, có lẽ điều này ngay người Trung Quốc hay Nhật cũng không thể so với dân Triều được! Và như gia đình cô Triều lấy ông em Việt đồng hương này thì cũng như vài chục ngàn người gốc Triều khác, họ dần dần kéo nhau từ Tashkent về Viễn Đông (Nga), lại một hành trình ngược bằng tàu hỏa hơn chục nghìn km. Và họ khá nhanh chóng ổn định được cuộc sống, hòa nhập rất tốt vào đời sống kinh tế giáo dục của Viễn Đông, rồi bắt đầu tìm hiểu về tổ tiên, dân tộc… nhưng chuyện đó sẽ kể sau.

Mùa đông, nhìn đất trời trắng xóa, xa lộ chạy giữa vùng rừng (thưa thớt thôi không nhiều cây lắm đâu) mới thấy sao mà Trung Quốc thèm khát vùng đất này đến thế. Ở đây 5% dân sống trên vùng đất có diện tích 36% của cả nước Nga (tức là còn to hơn Trung Quốc!). Đất tuy ít được canh tác như thế nhưng phía bên kia biên giới là bắc Trung Quốc – còn toàn núi non hiểm trở, chả trồng cấy được cái gì, ngay đến trồng rừng còn khó! Chứng tỏ ngày xưa Sa Hoàng cũng khéo chọn đất mà chiếm, còn Trung Quốc thì hậm hực lắm, đến ngày nay vẫn bảo cả vùng đất ấy cho tới Sibery cũng đất tổ tiên Trung Quốc cả, sẽ có ngày lấy lại – Vladivostok thì người Tàu gọi là Hải Sang Uây – quả là người Tàu ở khắp nơi, xưa cũng nhiều và nay càng lắm! Nga có đối sách với Tàu khá quyết liệt: không cho lấy vợ lấy chồng (!?), chỉ cấp visa 3 tháng thôi thế nhưng quả là khó chống, hết 3 tháng người Tàu ngồi xe bus về nước, qua biên giới lại quay sang, còn nền kinh tế cả vùng biên mậu và hơn nữa phụ thuộc vào hàng Trung Quốc lâu rồi, đúng là xâm lược bằng kinh tế là khó đỡ nhất!

Cứ nhìn cách Nga “đối xử” với các nước thì biết quan hệ ngoại giao định hướng thế nào ở vùng Viễn Đông này! Nhật thì khỏi nói rồi, không trả cho nó cái quần đảo Kuril nên một “yên” chúng cũng quyết không đầu tư vào Nga, vào Viễn Đông, mặc dù dân Nga mua về bạt ngàn ô tô tay lái nghịch và tàu thuyền, ca nô… từ Nhật. Với Hàn Quốc thì thông thương từ lâu, hàng tiêu dùng đổ về Nga nhiều lắm, còn than, sắt thép của Nga thì lại tuồn qua cửa ấy đi khắp nơi, nhưng Nam Hàn cũng “giữ miếng” lắm, chả đầu tư gì mấy đâu, ngoài cái khách sạn “Huyndai” to nhất nằm giữa thủ phủ Vladivostok mà dân Nga đọc đúng giọng Triều là “Hên Đê”. Cũng phải thôi, buôn bán thì được, chứ đầu tư hay sản xuất họ tội gì không sang những xứ đông dân lao động rẻ lại ổn định và thời tiết thuận lợi như Việt Nam ta! Chỉ có dòng khách du lịch sang Viễn Đông, cũng đâu có nhiều, chả bằng một góc khách Trung Quốc… Việt Nam ta thì khỏi nói rồi, chính phủ hai nước kêu gọi đầu tư sản xuất ở đây mãi có thấy gì đâu (đấy là sau chục năm sẽ có TH Milk xuất hiện, hồi sau sẽ rõ). Riêng quan hệ với Bắc Triều Tiên của Nga tại Viễn Đông thì rất đặc biệt mà ai ở đó cũng thấy ngay. Từ trước tới nay Nga tạo điều kiện cho công nhân xây dựng của họ sang làm việc, những công đoạn nặng nhọc nhất là họ đảm đương như làm đường và ốp mặt ngoài của các tòa nhà cao tầng. Họ như những chiếc bóng, làm việc lặng lẽ, giấy tờ bao giờ cũng có đầy đủ (và có chỉ huy quản hết), ăn uống kham khổ vô cùng, tiền thì không bao giờ được nhận vào tay, chả biết người nhà có nhận được chút nào không. Lúc đó Viễn Đông đang chuẩn bị APEC, Nga đổ tiền làm hạ tầng vô tội vạ, cứ công trình nào thuê được công nhân Bắc Triều Tiên là yên tâm lớn. Không hề có vụ trộm cướp hay chạy trốn nào… Họ cũng tránh giao tiếp với người bản xứ nhất là gốc Triều.


Vladivostok theo đường chim bay cách miền Bắc Triều Tiên chưa tới 200 km, thỉnh thoảng ở trong thành phố lại nghe cái “ầm” rồi cửa kính rung rinh, dân Nga kháo nhau “lại bọn Bắc Hàn thử vũ khí đấy!” – có lẽ đúng, chả biết vũ khí gì mà ghê thế. Dọc đường chúng tôi đi thi thoảng mới có một trạm xăng hay cái quán ăn, làng xóm ở xa, đường dài hun hút… lâu lâu lại vượt chiếc xe bus chở người du lịch (là một hình thức buôn bán biên mậu, mỗi người được mang về 35kg) và có cả du khách Nam Hàn. Chú tây anh vợ bảo chúng tôi có muốn “gửi hồn vào đất” thì cứ vô tư, nhưng mấy xe kia không dám đâu, cả vùng Viễn Đông này theo luật đâu cũng là đặc khu quân sự trừ vài thành phố lớn, xe dừng lại là có thể bị túm vì tội “không đăng ký hộ khẩu” ngay đấy, dù chỉ để đi đái! Cái này tác động đến cả người Nga từ vùng khác tới, chứ không chỉ liên quan đến khách nước ngoài đâu! Ví dụ một người Nga ở Moscow đến đây, đi đường cao tốc thì không sao, chứ dừng lại tạt ngang ngửa hái nấm thì có thể bị tạm giữ vì tội vi phạm an ninh biên giới! (Chúng tôi biết là “tây lông” nó dọa thôi, nhưng sau này chính mình bị đúng một vụ như thế mà lại ngay gần thành phố Bolshoi Kamen mới ‘đau” chứ – giữa hai cảng chính Vladivostok và Nakhodka là một thành phố vẫn chưa được bỏ cái mác “quân sự” đi, mà đường xa lộ bắt buộc phải đi qua đó, chúng tôi đi hàng trăm lần rồi mới biết là nếu cảnh sát thích “túm” thì cứ việc túm là đúng luật thôi…). Điểm đến là vùng nông thôn Slavyanka, gần sát biển, có rừng có núi, đường bộ đường sắt đường thủy, biên giới cảng biển… đủ cả, chính là “quê” của gia đình dòng họ người Triều vợ ông em Việt Nam này sinh sống trước khi “đi đày” năm 1937, sau này họ lại quay về đúng chỗ cũ để khởi nghiệp đã, rồi đi đâu thì đi. Đó là vùng khá thuận lợi, có rừng, có biển, thông thương với Trung Quốc tốt. Mùa đông các gia đình Nga ở vùng lục địa như Khabarovsk, Amur… hay ra biển nghỉ lắm, họ ở từ 2 đến 4 tuần, thuê nhà trọ hay thậm chí sống trong lều cũng được – thế nên người gốc Triều làm “dịch vụ” ngay, đây là dịch vụ du lịch: chỗ ăn ở, nấu nướng, tổ chức câu cá, đi săn…, họ nhanh nhẹn và chịu khó, lại xây những nhà nghỉ nho nhỏ cho vài gia đình khách thuê được, thế là lời chán, khách mùa đông còn đông hơn mùa hè!

“Đoàn” của ông con rể về quê được chuẩn bị đón tiếp khá chu đáo. Đại gia đình nhà vợ gồm mấy căn nhà ở sát gần nhau, con cháu chạy qua chạy lại chả khác gì một làng quê Việt Nam. Lúc đầu cũng khá lạ lẫm, toàn người châu Á chả khác gì trong mấy cái phim Hàn nhiều tập hay chiếu ở Việt Nam mà nói giọng Nga chuẩn tuyệt đối, gọi nhau cũng bằng tên Nga hết (hóa ra họ chỉ cố giữ lại được cái họ). Ông anh vợ vác súng săn đi, một lúc sau bà mẹ vợ đã bê ra đãi khách một nồi thơm phức, món ăn truyền thống của Triều Tiên – thịt chó hầm, gọi là “khê” – chả biết đọc thế đúng chưa nhưng thua thịt chó Hàng Lược của ta phải vài triệu năm ánh sáng! Thấy con rể bảo thua rựa mận nhiều nhà vợ áy náy lắm, bảo là súng đạn ghém nên tan tành hết cả, chứ đây là món “tủ” ông cha để lại đấy! Chả lẽ món quốc hồn quốc túy này do người Việt thời Lý chạy sang Triều Tiên rồi mang theo dạy cho họ nhưng thiếu rau dưa mà thành ra thế? Nhưng trong khí trời lạnh và với vodka tự nấu thì cũng ấm lòng lắm…

(còn tiếp)



(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2201247079937217)

THE NEW ECONOMIC OF OIL

Trong mấy ngày gần đây chủ đề hot nhất trong giới dầu khí là diễn biến của giá dầu, tựu chung lại có hai luồng ý kiến: 1) đây chỉ là đòn Mỹ chơi Nga và giá dầu sẽ quay lại mức cũ muộn nhất là giữa 2015 và 2) có những biến đổi mới trong cấu trúc thị trường toàn cầu theo hướng đẩy giá dầu xuống thấp trong vòng ít nhất là 1-2 năm tới, dài hạn hơn cũng khó qua được mức 100usd/barrel.
Tôi nghiêng theo quan điểm thứ 2 và dưới đây là tổng hợp một số nhận định theo quan điểm này từ một số báo kinh tế nước ngoài.
Giá của Dầu lửa, cũng như bất kỳ hàng hoá nào khác trong nền kinh thế thị trường đều được quyết định bởi quy luật kinh tế của cung và cầu. Các yếu tố như tâm lý, dự kiến về tương lai, đầu cơ và biến động chính trị có thể tạo ra những cú sốc ảnh hưởng tức thời đến giá dầu (thông qua những đột biến trong số lượng đặt mua hay bán trên thị trường). Nhưng về trung và dài hạn (từ 1 năm trở lên) giá dầu sẽ phản ánh bản chất kinh tế thực của cung (sản lượng) và nhu cầu tiêu dùng của thế giới.
Thứ nhất về mặt cầu. Thế giới hiện cần khoảng 92 triệu thùng/ngày (một số lượng vô cùng lớn), chủ yếu dùng cho vận chuyển (car, train, vessels, airplane…etc) chiếm tới 65% tổng cầu, công nghiệp (chiếm khoảng 10%) và các lĩnh vực khác (phân bón, hoá chất, vật liệu…vv). Tổng nhu cầu về dầu lửa là tương đối ổn định, dự đoán trong vòng 10-20 năm tới vẫn giữ ở mức 100 triệu thùng/ngày (kể cả trong trường hợp 5-10 năm tới ô tô chạy pin và dân tình dùng điện năng lượng mặt trời thì các yếu tố như gia tăng dân số…cũng vẫn bù đắp lại cho khối lượng nhu cầu dầu bị thay thế).


Trong tổng số nhu cầu hơn 90 triệu thùng/ngày đó, 4-5 nước sử dụng dầu nhiều nhất bao gồm
1. Mỹ tiêu thụ 19 triệu thùng/ngày
2. Trung Quốc: 10 triệu thùng/ngày
3. Nhật: 5 triệu thùng/ngày
4. Ấn độ: 3.3 triệu/ngày
5. Nga: 3.1 triệu thùng/ngày
6. (Việt Nam: khoảng 300K thùng/ngày, đưa vào để so sánh cho biết)
Tiêu tốn dầu nhiều nhất vẫn là Mỹ và Trung Quốc: người đông, đi lại và công nghiệp nhiều, các bác USA chắc bay nhiều, quá nhiều ô tô mà toàn loại uống xăng như nước lã
Về khía cạnh cung. Tổng sản lượng dầu của cả thế giới là khoảng 89-90 triệu thùng 1 ngày, trong đó:
1. Sản xuất nhiều nhất là các bác thuộc OPEC (Iran, Iraq, Kuwait, Saudi Arabia, Lybia, Venezuela, Nigeria…etc): 29-30 triệu barrels/day (chiếm khoảng 34% tổng cung dầu toàn TG), trong đó Saudi Arabia sản xuất 10 triệu thùng/day chiếm hơn 30% tổng sản lượng của OPEC.
2. Nga sản xuất: 10 triệu barrels/day (11%)
3. Mỹ sản xuất: 9 triệu barrels/day (10%)
4. Trung Quốc: 4.3 triệu barrels/day
5. (Việt Nam mỗi ngày bơm lên được khoảng 500.000 thùng, không lớn so với các đại gia nhưng cũng thuộc tầm trung của TG).
Trong một khoảng thời gian dài từ 2011 cho đến đầu 2014 giá dầu duy trì ở mức ổn định từ 100-120 USD/thùng, dự báo của các cơ quan chuyên về dầu lửa có uy tín như OPEC, IEA (cơ quan năng lượng Mỹ) đầu năm 2014 đều đặt giá dầu ở ngưỡng trên 100 USD trong các năm 2014-2016. Thực tế giá dầu trong 6 tháng đầu năm 2014 vẫn duy trì ở mức 100-110 USD.
Một số sự kiện chính trị lớn trong năm 2014 có khả năng ảnh hưởng tới giá dầu bao gồm khủng hoảng ở Ukraina, Mỹ và Châu Âu trừng phạt Nga và cuộc chiến tại Trung Đông (Iraq, Syria).


Thông thường những biến động chính trị như vậy sẽ làm giá dầu tăng do thị trường lo ngại về nguồn cung từ những khu vực đang có biến động bị giảm sút. Nhưng lần này ngược lại giá dầu lại giảm, bắt đầu giảm từ cuối tháng 6/2014 gần trùng với thời điểm Mỹ/Châu Âu trừng phạt Nga (July/14). Do sự trùng hợp về thời gian này mà nhiều quan điểm cho rằng giá dầu giảm là đòn của Mỹ làm Nga suy sụp về kinh tế, buộc Nga phải nhượng bộ hoặc thay đổi chính trị (Putin).
Nếu thực sự giá dầu giảm đơn thuần do đòn chính trị và thao túng thị trường của Mỹ và đồng minh thì ơn trời, như vậy giá dầu thấp sẽ chỉ là ngắn hạn vài tháng đến 1 năm maximum, bởi định “chơi” Nga mà đến mấy năm Nga vẫn ok thì chơi làm gì cho tốn “đạn”.
Quan điểm đây là đòn của Mỹ đánh Nga có vẻ không thuyết phục vì mấy lý do:
1. Cả Mỹ và đồng minh Saudi Arabia gộp lại tối đa cũng chỉ kiểm soát được 20% tổng cung, chưa đủ để có thể thao túng, điều khiển giá dầu (các bác OPEC khác như Venezuela, Nigeria, Iran…vốn vẫn thù Mỹ từ lâu thì bắt tay thế nào được).
2. Hệ thống kinh tế – chính trị của Mỹ là tư bản nòi, đặc trưng bởi sự tách bạch giữa chính phủ và doanh nghiệp, giá dầu giảm ngoài Nga thì các đại gia dầu lửa lớn của Mỹ như Exxon, Conoco, Aramco…cũng hứng đòn nặng (thực ra gọi là Mỹ chứ các cty này cũng là sở hữu quốc tế, Nga, Trung, Đức, Pháp đều có vốn cổ phần trong đó hết). Không giống như bác Tập bên China muốn khiển giá nào chỉ cần nói thuộc hạ nhấc máy cho mấy anh CEO doanh nghiệp nhà nước lớn đang chi phối nền kinh tế là xong hết.
3. Chính trị Mỹ là chính trị nhiệm kỳ, cạnh tranh và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước (CP – QH – Toà án); hành xử của chính phủ nói chung là minh bạch và bị báo chí soi kỹ (đến như công an lỡ đấm mấy thằng khủng bố giết mình hôm 11/9 quá tay mà báo chí nó còn phanh phui đòi mấy ông thứ trưởng từ chức). Cách duy nhất mà chính phủ Mỹ có thể can thiệp làm giá dầu giảm là bộ năng lượng/tài chính mở kho dự trữ dầu quốc gia bán ra thị trường để tăng nguồn cung → giảm giá; chính phủ bán là thị trường rõ ngay, báo chí đưa tin ngay nhưng suốt cả năm 2014 Mỹ đâu bán dữ trữ dầu để can thiệp thị trường.
4. Có ý cho rằng do đồng đô la Mỹ tăng giá mà giá dầu thế giới tính bằng USD nên giá dầu do vậy bị giảm. Ví dụ do đô la tăng giá, đồng đô giờ giá trị gấp đôi, trước kia 1 đô ăn 1 thùng dầu giờ 1 đô đổi được 2 thùng → do vậy giá dầu h bị giảm một nửa. Lý do này cũng ko thuyết phục bởi USD có tăng thật nhưng là tăng so với euro và yên Nhật là chính (mấy nước này đâu có xuất khẩu dầu), mức tăng cũng chỉ khoảng 5-7% (dầu giảm 50% cơ mà) (ở Việt Nam USD vẫn loanh quoanh 21.500 cả năm nay, có tăng cũng chỉ 2-3%). Đồng rúp mất giá mạnh so với USD chủ yếu do tâm lý và những yếu tố kinh tế khác (kinh tế Nga cô lập và nguy cơ như vậy thì chẳng ai có tiền đi cầm rúp, đồng rúp mất giá là đương nhiên). Cho rằng chính phủ Mỹ cố ý làm đồng USD tăng giá lại càng không thuyết phục, lãi suất ở Mỹ vẫn đang đc duy trì ở mức thấp kỷ lục, hơn 1 năm nay FED mỗi tháng bơm (in thêm) cả chục tỷ USD vào nền k tế, những điều chỉnh này chỉ có thể làm cho USD yếu đi thôi.
Giá dầu giảm (mặc dù trùng thời điểm Mỹ trừng phạt Nga) thực chất là do thay đổi trong lực lượng cung và cầu dầu lửa của thế giới. Cụ thể nguồn cung đang trở nên dồi dào hơn do công nghệ khai thác đá phiến (mở màn tại Mỹ) trong khi nhu cầu vẫn ổn định thậm chí thấp đi do tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc.
Trước tiên, bước phát triển mới và có tính bước ngoặt trong công nghiệp DK của Mỹ là việc phát triển công nghệ khai thác dầu đá phiến (Shale Formations).
Dầu đá phiến đã giúp tăng sản lượng của Mỹ lên 30% giai đoạn 2013-14, so với trước hiện mỗi ngày Mỹ có thêm 3 triệu thùng, nâng tổng sản lượng tăng từ 6 triệu trước kia lên 9 triệu thùng/1 ngày. Hệ quả là Mỹ nhập khẩu dầu ít hơn (Mỹ là nước nhập net dầu, mỗi ngày từ 10-11 triệu thùng). Sản lượng từ Mỹ tăng và giảm nhập khẩu khiến ít nhất mỗi ngày thị trường thế giới ai đó phải mua thêm 3 triệu thùng, hoặc ở đâu đó phải cắt giảm sản lượng 3 triệu hoặc giá dầu phải giảm thì số dư mới có thể bán được.
Đặc điểm nổi bật của công nghệ khai thác đá phiến là thời gian nhanh, chi phí thấp – thời gian trung bình khoan 1 giếng của Shale formation là khoảng 1 tuần và chi phí khoảng 1.5 triệu/1 well (so với thời gian khoan và chi phí cho 1 giếng trung bình như tại biển Vietnam là khoảng 1-2 tháng, chi phí 20 triệu USD). Tuy nhiên trữ lượng của shale formation thường thấp, tuổi đời của mỏ chỉ khoảng 2-3 năm và sản lượng có thể giảm 60-70% sau năm đầu tiên (tuổi đời mỏ truyền thống tại Vn là khoảng 10-15 năm).
Phát triển trong công nghệ cũng góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế của việc khai thác đá phiến, nếu mấy năm trước điểm hoà vốn của một mỏ Shale formation là 70 USD/barrel thì năm 2014 điểm hoà vốn này đã giảm xuống còn 57$/barrel (Điểm hoà vốn được tính bằng cách lấy chi phí đầu tư mỏ CAPEX + chi phí điều hành mỏ OPEX trong cả dòng đời mỏ — tổng các chi phí này chia cho trữ lượng dầu của mỏ để ra giá một thùng dầu mà tại điểm đó đủ để thu hồi chi phí).
Giá dầu duy trì ở mức 100 USD với mức Break-Even Point (BE) đạt 57 USD đã làm bùng nổ lĩnh vực thai thác dầu đá phiến, chỉ trong giai đoạn 4 năm từ 2010-14 các cty Mỹ đã khoan và đưa vào khai thác 20.000 giếng, bằng tổng số giếng Ả rập xê út khai thác hàng trăm năm nay.
Trong khi nguồn cung từ Shale Formations tại Mỹ tăng lên đáng kể như vậy, nhu cầu dầu lửa của thế giới lại không tăng mà còn có xu hướng giảm do mấy yếu tố:
1. Trung Quốc và Châu Âu là hai khu vực tiêu dùng dầu lửa lớn của thế giới (đặc biệt Trung Quốc), kinh tế hiện đều phát triển chậm lại (ở TQ một phần là do điều chỉnh chính sách của CP, còn ở Châu Âu là do suy thoái). Nhu cầu nhập khẩu dầu ở hai khu vực này do vậy cũng giảm.
2. Phát triển trong công nghệ khiến phương tiện đi lại (transport chiếm 62% tổng tiêu dùng dầu lửa) tiêu hao nhiên liệu ít hơn. Chưa tính đến một phần nhỏ các loại năng lượng thay thế khác bắt đầu thay thế dầu lửa.
Trong bối cảnh nguồn cung từ Mỹ tăng, nhu cầu toàn thế giới giảm thì phương thuốc duy nhất để duy trì mức giá 100 USD là cắt giảm sản lượng của các nước khác (chủ yếu là từ các nước OPEC).
Trong khi nhiều nước (bao gồm cả nhiều thành viên OPEC) mong đợi OPEC sẽ cắt giảm sản lượng thì tại hội nghị thường niên tháng 11/14 OPEC quyết định vẫn giữ nguyên sản lượng 30 triệu thùng/ngày mặc dù tại thời điểm đó giá dầu đã giảm tới hơn 40%. Trong các tuần sau đó lãnh đạo OPEC tiếp tục tái khẳng định chính sách duy trì nguyên trạng mức sản lượng hiện tại để duy trì thị phần của OPEC, kể cả khi giá dầu rơi xuống mức 20USD/barrel.


Khả năng OPEC thực hiện chỉ đạo của Mỹ để chơi Nga là khó bởi bản thân nội bộ OPEC vốn đã gồm những thành viên “bằng mặt nhưng không bằng lòng” với nhau, ngoại trừ Arab Saudia thì các nước còn lại vốn “thù” Mỹ từ trong máu.
Thêm nữa giá dầu giảm thì OPEC là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi đa phần các nước này phụ thuộc vào dầu mỏ (Arab Saudia đến 99% GDP, ngân sách là từ dầu mỏ), lịch sử và logic thông thường thì OPEC phải cắt giảm sản lượng để giữ giá dầu.
Lần này OPEC có suy nghĩ và chiến lược kinh tế khác. Đối với OPEC mối nguy tiềm tàng và đe doạ lớn nhất là Shale Gas/Oil, nếu không ngăn chặn kịp thời thì công nghệ khai thác đá phiến này chẳng mấy chốc sẽ làm thế giới ngập chìm trong dầu, không chỉ giá sẽ giảm mà thị phần của OPEC cũng sẽ bị mất, trước mắt là mất khách hàng và thị phần tại Mỹ, sau đó là các nước khác như Trung Quốc (đáng chú ý là năm 2014 lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, chính phủ Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ đã từng được áp dụng để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, tức là từ nay dầu của Mỹ có thể được xuất khẩu sang các nước khác).
Cách duy nhất để dập tắt làn sóng shale gas/oil là chấm dứt lý do kinh tế của nó, đẩy các công ty đang hoạt động trong lĩnh vực này phải phá sản. Với mức chi phí và BE hiện đang nằm ở khoảng 57-70USD/barrel, nếu giá dầu duy trì ở mức 60 thì sớm muộn các cty khai thác shale formations sẽ phải chấm dứt hoạt động.
Giá dầu thấp OPEC thiệt hại, nhưng nếu chỉ trầy da xước tay mà có thể tiêu diệt được đối thủ thì OPEC vẫn muốn làm. Chi phí khai thác dầu tại các quốc gia OPEC nói chung thấp, Ả rập xê út chỉ tốn 5 USD để khai thác 1 barrel (mức thấp nhất thế giới) nên giá dầu xuống 50-60 dù tổn thương nhưng “room” vẫn còn quá lớn.
Vấn đề OPEC nhận thấy là dù nếu có cắt giảm sản lượng cũng khó có thể có tác dụng mong muốn. Một mặt nếu OPEC cắt giảm sản lượng để giữ giá thì OPEC thiệt trực tiếp trước, hàng loạt các nước khác như Nga, Vietnam, Malay, Indo…thậm chí cả mấy thằng “Shale” lại được hưởng lợi từ giá cao. Mà sản lượng OPEC có giảm thì mấy thằng Shale nó lấp đầy ngay, vô tình tạo thêm sức mạnh cho kẻ thù.
Trong bối cảnh các yếu tố kinh tế của cung – cầu đang có những phát triển theo hướng đẩy giá xuống thấp thì các nhân tố chính trị cũng không giúp gì cho việc hồi phục của giá dầu. Nếu muốn can thiệp vào thị trường dầu thì Châu Âu và Mỹ với nguồn lực hùng hậu (tiền bao la, đô la của nhà in được) hoàn toàn có thể làm được bằng cách mua dầu vào dự trữ để tăng cầu, hoặc điều chỉnh chính sách đối với shale industry (đánh thuế cao, giữ nguyên lệnh cấm xuất khẩu, ban hành quota/giấy phép khai thác…). Tuy nhiên Mỹ & châu Âu có những động cơ chính trị và kinh tế để không can thiệp, cụ thể:
1. Putin tỏ ra cứng đầu, “tinh tướng”, Mỹ còn đang tìm cách dạy cho một bài học thì tại sao phải cứu?
2. Mỹ và Châu Âu hiện chưa có nguồn thu và ko phụ thuộc vào xuất khẩu dầu (còn đang phải nhập net). Giá dầu thấp còn có lợi cho nền kinh tế Mỹ/Châu Âu, nếu giá dầu giảm 40 USD thì các nước nhập khẩu dầu có thêm một khoản 1.3 nghìn tỷ USD để làm việc khác. Trong bối cảnh kinh tế châu Âu đang rơi vào suy thoái thì giá dầu giảm là một tín hiệu tốt.
Tất nhiên kinh tế có quy luật tự điều chỉnh của cung cầu và giá cả. Về mặt dài hạn:
1. Giá thấp trong thời gian dài sẽ làm shale industry phá sản, đầu tư vào thăm dò khai thác nói chung trên toàn thế giới cũng sụt giảm → các yếu tố này sẽ làm nguồn cung dầu trong tương lai giảm theo.
2. Giá dầu thấp sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế tốt sẽ kéo theo nhu cầu dầu tăng.
3. Nguồn cung giảm trong khi nhu cầu tăng sẽ kéo giá dầu cao trở lại. Giá dầu nếu quay lại mức trên 100 USD sẽ thúc đẩy đầu tư, shale oil lại bùng nổ và chu kỳ kinh doanh cao – thấp, thịnh – suy sẽ tiếp tục lặp lại.
Nhưng đó là nói về dài hạn từ 2 năm trở lên (Putin nói sẽ đưa Nga thoát khỏi khủng hoảng sau 2 năm có lẽ cũng có lý do vậy), vấn đề trước mắt là giá dầu sẽ ở mức nào trong 2015-2016? Phân tích kinh tế bên trên (cung dồi dào, cầu ổn định thấp, chiến lược của OPEC kiên quyết ko giảm sản lượng) cho thấy dù có hồi phục thì 2015-16 cũng khó đạt được mức 80-90USD. Tuy nhiên ai dám nói trước điều gì?
Đối với Việt Nam chi phí cho một thùng dầu (điểm hoà vốn – BE) hiện đang ở mức trung bình 70-75 USD, giá dầu dưới 80 USD sẽ là một trở ngại lớn cho các quyết định đầu tư, thăm dò/khai thác và công ăn việc làm của toàn nghành dầu khí.
Giá dầu thô đã có nhiều biến động trong suốt gần 1 thế kỷ qua, lần gần nhất là giai đoạn 2008-09 khi giá 1 barrel đã xuống đến 40 USD để rồi sau đó lại ngóc lên mức 110. Liệu lịch sử có lặp lại hay This Time is Different?
Tham khảo thêm:
http://www.economist.com/blogs/economist-explains/2014/12/economist-explains-4
http://www.economist.com/news/leaders/21635472-economics-oil-have-changed-some-businesses-will-go-bust-market-will-be
http://www.ft.com/intl/cms/s/0/63c7786c-89bc-11e4-8daa-00144feabdc0.html#axzz3Mhd2QdtS


(Meraki)

Richard Nixon The Life – Jonh A. Farrell

Richard Nixon The Life - Jonh A. Farrell

Richard Nixon The Life – Jonh A. Farrell

“History will treat you well,” Henry Kissinger told Richard Nixon, in their last days at the White House.
“It depends who writes the history,” Nixon replied.

Harmful sex movies when shown to children. In that sense, people are only “coming of age” and mature enough to be political. Suppose there is an underground camera in the White House that records all the night and day moments, so that later history can be reviewed, so many scenes of that movie only the adults should watch and understand.

Richard Nixon is a “strange” person. When he became the 37th president of the United States, he ordered the secret police to set up a tape recorder to record all the perversions in the “palace”. Later when faced with impeachment in the “Water-gate”, Nixon refused to cancel those tapes, despite advice from advisers. Thanks to that, the following historian has a vivid picture of the White House: full of drama and wisdom; in the center of history with the highest demands on human quality, is also the most intense, intriguing, and fierce struggle. Nixon was “indicted” by the US Congress for a total of nearly 150 crimes and illegal acts, including: lies, obstruction of justice, racism, insults …

The president of the United States is the pressure and “bony” position, “man-killer job”. Domestic, international, no field does not have to care; journalism, opposition day and night, and although there is a strong & quality advisory team, the issues up to the President are mostly the problems of the world below without explanation. “Your call, Mr. President”, alone on the line, under the abyss waving.

The “job description” of the head of the nation must be combined with the intellectual, experiential and moral requirements. But wherever we are, there are only “people”, but very talented people often go through many disabilities. So civilized America has so many prominent presidents like Nixon, Clinton or Trump, that is simply real life and because American politics is fierce, clear and transparent than others.

“I was born in a house my father built.” – everyone had a destiny, and to a certain extent that fate was molded from the family. Throughout his life, Nixon never forgot the difficult childhood; family of nearly 10 people in a narrow hut, barley porridge meals are not enough to divide for 5 brothers; his father sold oranges in the market to feed his wife and children and was a harsh father, the two brothers who had the highest quality and were expected to all die of adolescence. Nixon was heavily influenced by his mother, a woman who endured, struggled, and sacrificed for her husband, as he relented later: “Nobody will ever write a book, probably, about my mother. Well, I think all of you will say this about my mother, my mother was a saint, I think of her, two boys dying of tuberculosis, nursing four others … Yes, she will have no books written about her. a saint. ”

Such a family influenced Nixon’s later life view, he always conceived of life as uncertain and difficult, requiring a relentless effort (Nixon took his bag to his office until at death).

Since childhood, Nixon has been a bookworm, quiet, timid, looking for joy and hiding in the worlds he envisions from books. At night listening to the train whistle echoed, Nixon imagined long trips, strange people & lands; dreams, inviting, urging to go.

Nixon graduated from college (he only attended the “countryside” school because he had no money), when World War II began. Boys of war time, the way to make a career is to go to the front. The battlefield for Nixon saw survival lessons, forged and tough, as James Mattis said: “Be the hunter, not the hunted. Be polite, be professional, but always have a plan to kill everyone you meet. ”The battlefield also changed people in a different way: hourly death witnesses, friends 17-18 scene with beautiful bullets. Seeing that, Gixon suddenly gulped around, Nixon couldn’t help thinking about fate. After a good war, there was a lot of interest, and I was afraid of anything, and regretted it … that experience helped Nixon in the minutes, big decisions in the political career later.

Looking back at the lives of many political figures, one cannot help but wonder, but from a very ordinary, unremarkable guy, the posture is sidelined to the head of state. Fate, perhaps; but those lives are certainly challenging, dramatic and mysterious.

Richard Nixon is a central figure in a highly turbulent period of the United States and the world: Civil Right Movements, Vietnam War, Cold War … In terms of a politician, Nixon is considered a The talented president, a transition in US-China relations, and a meeting between him and Mao Zedong in 1972 were considered “historic” and the step of a great strategist.

The road from the son of a seller to the 37th president of the United States, no matter how many stains and black pages, is a story about a person (all people and parts) who never stop fighting, not forgetting the whistle of the train waving to the road.

“Richard Nixon: The Life”, by John A. Farrell, 800 pages, published March 2017.

(From Meraki)

One Man’s View Of The World by Lee Kuan Yew

One Man's View Of The World by Lee Kuan Yew

One Man’s View Of The World by Lee Kuan Yew

“God grant me the serenity to accept the things I can’t change, the courage to change the things I can, and the wisdom to know the difference.” – Reinhold Niebuhr


As one of Asia’s most prominent leaders in the 20th century, Lee Kuan Yew has serenity, pragmatic spirit, acceptance of reality and what he cannot change; determination and courage enough to be independent, build and turn Singapore into a “model” country. And above all, wisdom is to know what “must accept” and “what can be changed”.

“One Man’s View of the World.” Is a collection of thoughts, life-long interviews of Lee Kuan Yew for major issues of the world and himself.

Back to Singapore:

Singapore must accept the world as it is because my country is too small to change the situation. But we can try to maximize the space that can help the country navigate between the “multi-tree” in the region. That has been our approach and we have to be agile and flexible so we can continue to do so.

On the domestic side, there are three factors that make up Singapore’s success story – turn this country into the safest place to live and work, treat every citizen equally and ensure long-term success for every generation of Singaporeans.

There are three basic factors that we have built over these years, we will lose our current advantage. Investors, both at home and abroad, need to feel confident investing in Singapore. These three factors ensure their profitability is sustainable in the future. If we don’t integrate and link globally in this way, we will be mercilessly devastated by the world cycle.

….

Within 100 years will Singapore still exist? I’m not sure. America, Central, England, Australia – these countries exist for hundreds of years. But Singapore has only recently formed a national image. The previous generation of Singapore built it from scratch – and how well we did it. When I lead the country, I have done my best to strengthen national interests. Ngo Tac Dong did the same. And now, under Ly Hien Long and his team, the country will grow at least in 10, 15 years. But then, the trajectory we will follow will depend on the younger generation of Singapore. Whatever these options are, I am absolutely certain that if Singapore has a poor government, we will spend our lives. This country will sink into nothingness.

“What is your biggest concern about Singapore?” – I have no worries. I have done my part, my mission is completed. I have built a clean, talented and open-minded system. I can’t do anything anymore, I can’t live forever like a young, middle-aged 40, 50-year-old man energized forever.

“But are you sad when you look at the road in front of Singapore?” – To tell you the truth, I no longer want to know what will happen. No need to be sad. It depends on the growing generation now. What will they do, will they share the same values ​​with their parents?

About China

The re-export of China as a power on the international stage is one of the most dramatic events of our time. With extraordinary economic growth, developing on an unprecedented scale in human history that hardly 40 years ago could have imagined, this country’s growth will certainly continue for several decades. come with the forecast that by 2020 there will be the highest GDP in the world. The rise of this nation is equally remarkable, from a monotonous and pale people into a strong integrated nation with global interests.

In order to understand and predict what China will be in the next twenty years, we need to understand the people and society of this country. Throughout the thousands of years of history, Chinese people still believe that the country can only be at peace when there is an absolute central government. A weak central government is synonymous with confusion and confusion, and if it is powerful, it will lead to a peaceful and prosperous China. Every Chinese person is imbued with this thought and it is also a principle belief that is drawn from the practical and historical lessons they themselves have experienced. Perhaps in the near future, Chinese people remain faithful to this way of thinking and that state of mind has existed for thousands of years before communism was cultivated here.

Many Westerners want to see China become a Western-style democratic country, but this expectation has no practical basis at all. With a prejudiced view of the world, Americans most consistently assume that a country will not be able to succeed without a parliamentary democracy that is like the president and the parliament is elected by popular vote and every few The year must be re-elected once. Chinese people have never had a tradition. As the owner of a vast territory of 1.3 billion people with a distinctive culture and a different history, Chinese people will develop the country in their own way.

……
The central problem is whether people believe in repeated Chinese assurances that the country is looking for nothing more than a peaceful rise and that the country will never become hegemonic? There are two ways to look. One is that China will become quietly silent and quietly increase its influence without acting as a aggressor. Another view is that they will show off their strength and try to intimidate other countries. I think they will choose the first way, but at the same time strengthen. Deng Xiaoping believes that China should avoid noticing while strengthening its potential. He believed in hiding his ability, or as the Chinese call it nurturing (refusing to wait for time). The Chinese know that they need 30 to 40 years more peace to catch up with the rest of the world. They have come to the conclusion that if they remain the same route, avoid offending the current great powers and make friends with every country, they will only become stronger and stronger. They are more and more hands-on to solve internal problems and continue to develop their economy.

China is also vigilant to avoid Japanese and German cars. The rise of Germany and Japan led to a power competition in Europe and Asia, the influence and resources led to two horrible wars in the twentieth century, and completely ended the unrest. get up of them. If China participates in a war, the country will have to risk facing internal instability, conflict and chaos, and may fall back – a big gap. Therefore, for Chinese people, rational calculation would be “We have waited so long to have this opportunity to catch up with the developing world. Why hurry and jeopardize our slowly rising process? ”

Of course that does not mean that China merely gives in when there is a conflict with another country. As the balance of power changes, the country will be more free to show what it likes and dislikes. And as former Foreign Minister Yang Jiechi said, where China’s core interests are threatened, Chinese people will have to assert themselves.

Come back Vietnam

From optimism after my visits to Vietnam in the 1990s, my own view on their reform programs has changed so much. I now believe that the generation of older leaders in Vietnam is not able to fundamentally break socialist thinking. At first, they agreed to embark on a journey of reform because they found that the country was not going anywhere. But since then they have not shown the true determination in overhaul of the system, which people have witnessed in China.

….


What Vietnam does not like China is that they lack a leader like Deng Xiaoping , a person who has a firm foothold in the party system and has a strong belief that radical reform is the only way out country. The reason Vietnam lacks such a character is due to the war against America. When Chinese people have decades of peace to record their management experience, taking practice as a guideline to adjust their beliefs and ideologies, the Vietnamese are trapped in a war. Brutal assault on Americans, learning nothing about how to run the country. Moreover, most successful entrepreneurs among the Vietnamese in the South – those familiar with the way of capitalism – left Vietnam in the 1970s.

Vietnamese people are one of the most powerful and capable people in Southeast Asia. Their students who come to Singapore under ASEAN scholarships are serious about their studies and often have the highest scores. For such smart people, it is a pity that they cannot develop their potential. Hopefully, when the war generation fades away and the younger group replaces, they will see how well Thailand develops and become confident in the importance of the free market.

(By Meraki)