CÁM DỖ DÀNH CHO “NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ”

Vợ chồng ông bà Jef-Ann tại Việt Nam

CÁM DỖ DÀNH CHO “NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ”

(tiếp theo Sự thật về Tập đoàn may mặc)



Có nhẽ gần hai chục năm tôi mới quay lại thành phố Thái Bình, mặc dù rất gần Hà Nội và đường xá bây giờ tốt hơn nhiều, xưa còn phải chờ phà. Thành phố thay đổi đến khó mà nhận ra, cũng giống với hàng chục thành phố khác, có một khu “Vincom” hào nhoáng chả khác gì Vinh, Thanh Hóa hay Hòn Gai… Có bảo tàng với một thảm cỏ đắng trước cũng mênh mang chả kém gì Ba Đình, có những khu đô thị quy hoạch mới, đường đôi chả khác gì Mỹ Đình hay Hà Đông… Ngồi nhâm nhi món cá kho tương truyền thống ở Quán Cá Ven Sông, tôi khen ông bạn quê hương “năm tấn” là thành phố rất nhiều cây xanh, tôi đi qua mấy chỗ gần đây thôi mà thấy xanh um tùm, như công viên nhưng không lẽ lắm công viên thế, hay là cái gì vậy? Cậu “thổ dân” đoán ra ngay, giải thích đó không phải vườn hoa công viên gì hết, mà là các nhà máy may đấy, Thái Bình đang có những nhà máy may đẹp nhất Việt Nam. Tò mò quá, tôi mới hỏi nhà máy to thì cũng không phải chuyện lạ, Thái Bình vốn dĩ là đất của nhiều triệu phú lắm, nhưng lại đẹp như công viên và giống nhau đến thế thì quả là khó hiểu, tôi đi cũng nhiều mạn Hải Phòng với Bình Dương thăm quan biết bao nhà máy rồi mà ít khi được như thế. “Tất nhiên là có lý do…!” ông bạn úp mở và bảo cứ ăn xong đi rồi dẫn tôi đi xem lại, thích vào cả trong xem thì xin mời!

Tôi nghĩ mấy cái nhà máy này giống resort hơn, với lượng cây có lẽ còn mật độ nhiều hơn cả Ecopark, có cả những phòng tập thể hình to hiện đại như Cali cho anh chị em công nhân tập luyện, rồi nhà ăn tập thể thì các trường đại học ở thủ đô còn phải thua xa! Lập tức hiểu rằng chủ không phải người Việt (người Việt ông chủ bao giờ cũng có cái phòng giám đốc to vật vưỡng, bàn ghế gỗ quý, cây cảnh tỉa tót khoe tiền tỷ, với cái phòng thờ hoành tráng lắm, nhưng tất cả các chỗ còn lại thì… vẫn như mọi khi!). Nhưng lạ cái rằng ngay các nhà máy theo tên thì của 2 tập đoàn khác hẳn nhau nhưng giống nhau đến cả cái logo, cả cái gam màu đỏ sậm, cả cách bài trí nhà máy, mà cùng là may đồ thể thao gia công xuất khẩu cả, số lượng công nhân đông lắm! Cậu bạn giải thích: “câu chuyện này cả tỉnh đều biết, tất nhiên là không phải ai cũng hiểu chân tơ kẽ tóc đâu, nhưng nó diễn ra công khai trước bàn dân thiên hạ, hàng mười mấy ngàn công nhân… nên chả phải bí mật gì ghê gớm. Có ông tây là chủ một tập đoàn may mặc với 8 nhà máy chủ yếu ở Thái Bình và Nam Định, thế rồi một ngày đẹp trời tất cả lại biến thành tài sản của tay Ph. – người Việt, vốn là nhân viên của ông tây nọ. Thế rồi đàm phán chia chác làm sao chả rõ, nhưng rồi chia nhau, mỗi “bên” 4 nhà máy, từ đó ở Thái Bình có 2 tập đoàn may gia công lớn lắm cùng đứng tên chữ M cạnh tranh nhau quyết liệt! Một bên là của thằng Ph với cái G. người tỉnh này, thế mà cứ có tin đồn lao xao là đằng sau nhiều “sếp” đứng lắm, ai chứ doanh nghiệp như bọn tôi quá biết là ủng hộ thì có thể, chứ chả có “sếp” nào ném tiền vào cái ngành may mặc này, đơn giản là suốt ngày bị kiểm toán quốc tế, có “sếp” nào muốn bị kiểm toán đâu? Bên kia là ông tây người Úc, sống ở Hà Nội đã mấy chục năm rồi, ngành may ai cũng biết…”



Quá tò mò về câu chuyện Thái Bình này, cũng xin nói là tôi có làm công việc tư vấn đầu tư cho người nước ngoài một số năm trước kia nên cũng phần nào đoán ra được vấn đề. Trở về Hà Nội tôi không khó gì để được bên ngoại giao làm quen với nhân vật người Úc này – ông Nicholas Stokes (hay thường gọi là ông Jef) – một người đàn ông đã đứng tuôi, cao gầy, tự giới thiệu là đã ăn chạy từ lâu nhưng vẫn chưa bỏ được thuốc lá và rượu vang, rất cởi mở đúng với phong cách người Úc. Khi tôi hỏi về câu chuyện “2 chữ M” ông chưa kể lể gì cả, mà bật cho tôi xem một bộ phim phóng sự, bộ phim rất dài nói về việc hình thành 2 tập đoàn may mặc này. Một bộ phim mà theo Jef thì ông đã đầu tư để quay chủ yếu để cho ông ta xem, chứ ít ai được xem lắm – ông sẽ xem nó nhiều lần nữa, xem mãi để nhớ đến những đứa học trò người Việt của ông, đến một đứa học trò tên Ph, đã được tin tưởng yêu quý nhất, rồi đã cướp hết tài sản của ông, ông đau đớn vì sự phản bội một thì đau đớn gấp mười vì không chỉ mình Ph phản bội, mà gần như tất cả! Ông Jef nói vậy để chúng tôi không hiểu lầm là ông oán hận gì con người Việt Nam – ngược lại đấy, ông rất yêu quý đất nước chúng ta và người Việt nói chung, nơi đây ông đã từng gây dựng được sự nghiệp, cả vợ con ông cũng đã gắn chặt với Hà Nội hơn hai chục năm trời – mặc dù càng làm ăn nhiều ở Việt Nam thì ông càng thấy sao mà khó hiểu người Việt thế, ngày càng khó hiểu hơn…

Sang đây làm ăn từ trước cả khi Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận, ông từ con số không đã xây dựng nên một tập đoàn may mặc lớn nhanh như thổi, và sau năm 2000 ông bắt đầu đầu tư vào các nhà máy ở miền bắc. Vì lúc đó luật đầu tư nước ngoài chưa rõ ràng như bây giờ nên ông đã nhờ rất nhiều nhân viên trong công ty của mình đứng tên cổ phần hộ – tất cả họ biết nhau và biết chuyện đó, mặc định hiểu là họ đều làm công ăn lương cho ông chủ Jef, còn cổ phần họ đứng tên là tài sản của ông, sau này họ sẽ chuyển trả lại cho ông. Phải nói là ít có ông chủ nào lại nhân văn và lo cho đời sống các cán bộ và công nhân của mình tốt hơn được Jef, họ đều coi ông như một người thầy, và một người cha. Trong đó có Ph. – người học trò tuy không phải vào tập đoàn sớm nhất nhưng nhanh nhẹn và được ông tin dùng nhiều nhất – đã bằng cách nào đó chuyển cổ phần của nhiều đồng nghiệp vào tên mình, điều mà ông Jef không để ý và cũng chẳng lấy thế làm điều – đó là học trò mình cơ mà! Có lẽ có một sự chuẩn bị “lật đổ” khá lâu dài và cẩn thận mà người biết cuối cùng là ông thầy này. Ông vẫn hiểu cũng như hàng ngàn cán bộ và công nhân hiểu: ông là chủ 100% của tập đoàn Maxport. Thế nhưng…



Kế toán trưởng cũ có lý do nào đó để chuyển ra nước ngoài định cư, còn công ty kiểm toán quốc tế hàng đầu vào cuối năm 2015 bỗng dưng không chịu xác nhận Jef là chủ doanh nghiệp này nữa, bởi trên thực tế giấy tờ thì cố đông lớn nhất là Ph. mới đúng. Ngày 08/4/2016 là một ngày khó quên đối với Jef và rất nhiều nhân viên hội sở chính ở Hà Nội: khi đó Jef đang vắng mặt, thì trong giờ làm việc tại văn phòng Hà Nội đổ xuống mấy xe gồm có Ph, và hơn chục nhân viên bảo vệ đi từ Thái Bình lên, đằng đằng sát khí. Lấy quyền hạn của Tồng giám đốc Ph. ra lệnh đuổi ngay và luôn cô kế toán trưởng mới, không những thế mà cấm tất cả những người có mặt trong văn phòng sử dụng đến điện thoại, lập tức niêm phong hết mọi máy móc, hệ thống quản lý doanh nghiệp, tất tật – coi như từ đấy tất thảy đều thuộc về Ph, còn ông Jef thì có lệnh cấm cửa, không được đặt chân vào cái nơi ông đã mất hai mươi năm để chăm sóc từng cái cây, viên đá – chính là cái nơi mà ông vừa chiếu cho chúng tôi xem bộ phim về mình đây.

“Tất cả đều phản ông à?” – tôi hỏi mà không mong đợi một câu trả lời tốt đẹp. “Không, có một người anh em Việt Nam duy nhất đứng tên hộ tôi 10% đã đồng ý trả lại cho tôi vô điều kiện” – Jef trả lời và tôi mới để ý, ông khá hay dùng từ “người anh em” khi nói đến những nhân viên, những học trò người Việt của mình. Và ông nói thêm không giấu được niềm tự hào: ”Rất nhiều người cũ nay vẫn làm cho tôi, còn nhiều người không theo nghề nữa nhưng chúng tôi vẫn gặp nhau thường niên để kỷ niệm, như những người anh em trong một gia đình lớn Maxport!”.

Tôi thực sự ái ngại khi doanh nhân nước ngoài nói tới việc bị những “người anh em” Việt Nam lấy đi mất 90% tài sản với một phong cách có lẽ chỉ có ở Nga những năm 90 mới tồn tại như vậy. Như hiểu được sự băn khoăn của tôi, Jef kể rằng tiếp sau đó ông với Ph chia đôi số nhà máy không phải bởi “lòng tốt” của kẻ phản bội, mà ông đã phải mua lại khá đắt 40% tài sản của chính mình. Về phía Ph, người mà từ nay ông hay gọi là “the devil brother” thì đó là nhu cầu tài chính để vận hành khối tài sản cướp được, về phía ông Jef đó là nghĩa vụ đối với khách hàng quốc tế không thể không thực hiện dù bằng bất cứ giá nào. Và thế là nảy sinh ra 2 tập đoàn may gia công hàng thể thao, cùng với logo có chữ M – ngay cái logo này cũng là thứ mà ông thầy Jef đã bị cướp trắng!

“Thế ông đã kiện cáo những đâu rồi?”. ”Tôi đã mất rất nhiều chi phí cho các luật sư, nhưng họ đã và đang đánh giá điều kiện pháp lý chưa đủ để thắng kiện”. “Đại sứ quán, bộ ngoại giao nước Úc có giúp gì ông không?”. “Họ rất biết tôi và tin vào lẽ phải của tôi, nhưng họ coi đây là quan hệ dân sự giữa tôi và một nhóm người Việt, họ chúc tôi may mắn, và tôi phải tự lo đứng lên ở chính nơi tôi đã gục ngã!”. ”Ống sẽ vẫn theo đuổi công lý chứ?”. ”Tất nhiên, tôi sẽ chiến đấu vì công lý chứ không phải là vì tiền bạc nữa, sẽ bằng những cách quân tử nhất để lấy lại những thứ vốn là mồ hôi nước mắt của tôi, không, của cả những người anh em Việt Nam của tôi nữa! Tôi muốn cho những người Việt Nam một bài học, kể cả những người anh em rất tốt của tôi, kể cả những kẻ đã làm hại tôi, không chỉ riêng Ph đâu, rằng tài sản cướp được sẽ chỉ mang tới cho họ phiền toái, nhục nhã và thất bại mà thôi… ”.

Thế là chỉ vì chuyến đi dạo chơi Thái Bình mà vô tình tôi lại được chứng kiến một câu chuyện về “người Việt xấu xí” nữa. Người ta sẽ còn quay lại mổ xẻ vấn đề này rất nhiều, và lẽ đời tôi vẫn tin rằng “thiên bất dung gian” thôi. Nếu những bạn FB của tôi đọc bài này mà có ai quen biết với những nhân vật như Ph, như cô G, anh H – những người đã là cổ đông trên giấy của doanh nghiệp lớn của ông Jef – thì xin hỏi họ một câu thôi, hoặc đề nghị họ chia sẻ bí quyết làm giàu, vì sao đang chỉ là những nhân viên quản lý bình thường ở một công ty may mặc gia công họ lại bỗng dưng sau chỉ vài năm lại có được tài sản khổng lồ mỗi người mấy chục triệu đô la như vậy? Thiên tài đầu cơ chứng khoán, gặp may khi buôn đá đỏ, bán thiên thạch hay buôn chổi đót, chạy xe ôm ngoài giờ? Mỗi người trong bọn họ sẽ có một câu chuyện rất hay và bổ ích chứ nhỉ, và nếu họ không chia sẻ cùng chúng ta, thì sẽ có người kể tiếp về cuộc phiêu lưu “làm giàu không khó” của họ đấy…

(FB Nam Nguyen)


ADIDAS and PUMA – The Rivalry of The Dassler Brothers in The Football World

0_the-dassler-brothers-1024x576

ADIDAS and PUMA – The rivalry of the Dassler brothers in the football world

Rudolf Dassler was born on March 26, 1898 in the shoe maker’s family, the third child in the family. After 2 years he has an additional brother Adolf. From a young age they loved sports and were their main competitors. Love with sports and competition are probably their life until death.

Anh em Dassler
The Dassler brothers

Dassler brother’s shoe company


Because of his love for sports, Adi Dasler had the idea of ​​opening a brand to produce sports shoes with his own nails. Thanks to the support of a nail forger, Dasler-I started his own business. Some time later brother Rudolf also joined, he was not knowledgeable about shoe production, but knew how to sell products. That is the secret of their success – one person thinks of ideas and performs, and another seeks customers and convinces them to buy products.
By 1924 they established the company: «Gebrüder Dassler» («Brothers Dassler»). Production is increasingly expanding, the first favorite product and great success came in 1928 at the Olympics in Amsterdam when several athletes competed with their shoes. And after four years in Los Angeles, the athlete who won their shoe medal – the German Arthur Jonat won the bronze medal in the 100m run. The climax for the brothers was in 1936 at the Olympics in Berlin, the athlete Jessie Owens (USA) wore their shoes and won 4 gold medals. At that time the whole world knew of Dassler brothers.

Big split

Everyone knows that both brothers are fascist. The totalitarian dictatorship accompanied by a healthy sports movement opens up great potential for Dassler’s factory. But because of World War II they had to start with shoes for soldiers, and in 1943 Rudolf was enlisted. However, he did not have to fight any time, because he obtained his position in the typing room, and in 1945 fled when the Soviet Red Army approached and was eventually arrested for desertion. On the way to the prison he was rescued by the American army but later arrested for cooperating with the Gestapo. When he was arrested, he learned that the accuser was the younger brother of Adolf.
All contradictions have been revealed until now. Rudolf told the US government that the idea of ​​making shoes for Nazis was entirely given by Adolf. American soldiers lived in the Dassler mansion for almost a year and asked them to produce ice skates for American hockey. By 1946 they had just produced sports shoes, and in 1948 Christof Dassler died – the father of two brothers and the only one who prevented them from arguing and separating the company.
So in the same small city only a few hundred meters apart there are two extremely hostile sports shoe factories – Addas and Ruda. That’s right, no wrong writing.

The magic in Bern

After a few months Rudolf gave up the idea of ​​using his name in the company name and changed it to Puma. And Adi decided to add one more word and added a line to the logo. When their competition spread, the city split into two camps.
But the fame of the two brothers is much greater than that small city. The Dassler brothers resumed their association with the Sports and Olympic Committees of the countries, after they were interrupted by the war. They always compete with each other, leading to the fact that the whole world cannot have better shoes than Adidas and Puma. In 1952 the Dassler brothers made a major turning point when they provided the West German football league with replaceable nails. But before the World Cup 1954 Adi Dassler made a deal with the German team to provide the most modern shoes of that time. And thanks to that, there was a bigger place in history than Rudi.
In the finals of the German team met «golden generation» Hungary with the great Ferenc Puskas. In the group stage Hungary destroyed Germany 8: 3 and everyone thought the championship was definitely in the hands of Hungary. The first half ended with a score of 2: 2. At the start of the second half, the sky poured heavy rain and Adolf immediately changed the players to shoes with longer nails. Thanks to that, the German team had more flexibility and the 84th minute scored the winning goal. That battle went into history with the name «The magic in Bern».
After the victory, Adi had the idea of ​​placing an advertisement right on the stadium. In 1956 he agreed with the Olympic committee on adidas advertising at the Olympics at Melburn. So the younger brother was far ahead of him, but Rudolf did not give up. In 1958 Puma celebrated his victory over Brazil, while Rudi seized the opportunity and sued the slogan “Adidas – the best sports shoes in the world!”. And won the lawsuit.

Agreement with Pele

Although they hate each other, in order to avoid price increases in the advertising market, the sons of Rudolf and Adolf – Armin and Horst – who have an agreement with each other, will not sign the best players in the world. But having an agreement does not mean following. The South American market is very potential for two brothers. In 1970 a few months before the World Cup, Armin Dassler hired a consultant to Rio de Janeiro, to persuade South American players that they would play twice as well when going to Puma shoes. The king of football fell into a dilemma: Puma opened a wide marketing strategy but did not contact him. Then Pele’s representative gave a contract form to Armin Dassler.
Puma paid Pele for him to start tying his shoelaces right away in the yard before the game began, so everyone could see the football king walking Puma shoes:

Horst Dassler was extremely frustrated to know that. The battle between fathers became the war of children.

ADIDAS và PUMA Pele
ADIDAS và PUMA Pele

End the story

Rudolf Dassler died in 1974 at the age of 76 because of lung cancer. According to rumors, in the early 70s 2 brothers secretly met several times, but Adolf did not attend the funeral of his brother, only a phone call to the priest and said that he forgave his brother. Adidas has released a new model after the event with the message: «The family of Adolf Dassler doesn’t want to comment on Rudolf Dassler’s death». After 4 years Adi also died.
This day has a stadium named Adolf Dassler with his statue sitting on the stands.
The war between the two companies lasted until Adolf’s heirs also clashed with each other and eventually sold the company with half a billion dollars in revenue each year for 390 million.

ADIDAS và PUMA – Sự cạnh tranh của anh em Dassler trong thế giới bóng đá

0_the-dassler-brothers-1024x576

ADIDAS và PUMA – Sự cạnh tranh của anh em Dassler trong thế giới bóng đá

Rudolf Dassler sinh ngày 26 tháng 3 năm 1898 trong gia đình thợ làm giày, là đứa con thứ 3 trong gia đình. Sau 2 năm cậu ta có thêm em trai Adolf. Ngay từ khi còn bé chúng đã yêu thích thể thao và là đối thủ chính của nhau. Tình yêu với thể thao và cạnh tranh với nhau là lẽ sống của họ đến tận khi qua đời.

Anh em Dassler
Anh em Dassler

Công ty giày của anh em Dassler


Vì yêu thể thao nên Adi Dasler nảy sinh ý tưởng mở thương hiệu sản xuất giày thể thao với đinh của riêng mình. Nhờ sự hỗ trợ của một thợ rèn chuyên làm đinh, Dasler-em bắt đầu mở mảng kinh doanh riêng. Một thời gian sau người anh Rudolf cũng tham gia cùng, cậu ta tuy không am hiểu về việc sản xuất giày, nhưng lại biết cách để bán được sản phẩm. Đó chính là bí quyết thành công của họ – một người nghĩ ý tưởng và thực hiện, còn người khác tìm kiếm khách hàng và thuyết phục họ mua sản phẩm.
Đến năm 1924 họ thành lập công ty: «Gebrüder Dassler» («Anh em Dassler»). Sản xuất ngày càng được mở rộng, sản phẩm được yêu thích và thành công lớn đàu tiên đến vào năm 1928 tại Olympic ở Amsterdam khi có vài vận động viên thi đấu với giày của họ. Và sau 4 năm tại Los Angeles vận động viên đoạt huy chương đi giày của họ – người Đức Arthur Jonat đạt huy chương đồng trong nội dung chạy 100m. Đỉnh cao cho hai anh em là năm 1936 tại Olympic ở Berlin, vận động viên điền kinh Jessie Owens (Mỹ) đi giày của họ và đạt 4 huy chương vàng. Khi đó cả thế giới biết đến anh em Dassler.

Cuộc chia rẽ lớn

Ai cũng biêt là cả 2 anh em đều theo chủ nghĩa phát xít. Chế độ độc tài toàn trị đi kèm theo phong trào thể dục thể thao lành mạnh mở ra tiềm năng lớn cho nhà máy Dassler. Nhưng vì Thế chiến thứ 2 họ phải bắt đầu bằng giày cho quân nhân, và năm 1943 Rudolf phải nhập ngũ. Tuy nhiên ông cũng không phải ra trận lần nào, vì xin được vị trí ở phòng đánh máy, còn năm 1945 chạy trốn khi Hồng Quân Liên Xô tiến đến gần và cuối cùng bị bắt vì tội đào ngũ. Trên đường đến trại giam ông được quân Mỹ giải cứu nhưng sau đó lại bị bắt vì tội hợp tác với Gestapo. Khi bị bắt ông mới biết người tố cáo ông chính là người em trai Adolf.
Tất cả các mâu thuẫn từ trước đến giờ đã bộc lộ. Rudolf đã khai với chính phủ Mỹ là ý tưởng sản xuất giày cho quân phát xít là hoàn toàn do Adolf đưa ra. Lính Mỹ sống trong biệt thự Dassler gần một năm và yêu cầu họ sản xuất giày trượt băng cho khúc côn cầu Mỹ. Đến tận năm 1946 họ mới lại sản xuất giày thể thao, còn năm 1948 Christof Dassler qua đời – người cha của 2 anh em và người duy nhất ngăn cản chúng không cãi nhau và chia tách công ty.
Vậy là ở cùng một thành phố nhỏ chỉ cách nhau vài trăm mét có tới 2 nhà máy sản xuất giày thể thao cực kì thù địch – Addas và Ruda. Đúng rồi đó, không phải viết nhầm đâu.

Sự kì diệu ở Bern


Sau vài tháng Rudolf từ bỏ ý tưởng dùng tên mình trong tên công ty và đổi thành Puma. Còn Adi quyết định thêm 1 chữ nữa và thêm 1 vạch vào logo. Khi đó sự cạnh tranh của họ đã lan rộng, thành phố cũng chia cắt thành 2 phe.
Nhưng danh vọng của 2 anh em lớn hơn thành phố nhỏ đó rất nhiều. Anh em Dassler nối lại liên kết với các Ủy ban thể thao và Olympic của các nước, sau khi chúng bị gián đoạn bởi chiến tranh. Họ luôn luôn cạnh tranh với nhau nên dẫn đến việc cả thế giới không thể có giày tốt hơn Adidas và Puma. Năm 1952 anh em Dassler có bước ngoặt lớn khi cung cấp cho giải bóng đá Tây Đức những chiếc giày với đinh có thể thay. Nhưng trước World Cup 1954 Adi Dassler đã thỏa thuận được với đội tuyển Đức về việc cung cấp giày hiện đại nhất thời đó. Và nhờ đó cũng có chỗ đứng trong lịch sử lớn hơn Rudi.
Trong trận chung kết đội tuyển Đức gặp «thế hệ vàng» Hungary với Ferenc Puskas vĩ đại. Ở vòng bảng Hungary đã hủy diệt Đức với tỷ số 8:3 và mọi người đều cho rằng chức vô địch chắc chắn nằm trong tay Hungary rồi. Hiệp 1 kết thúc với tỷ số 2:2. Lúc hiệp 2 bắt đầu thì trời đổ mưa to và Adolf ngay lập tức cho các cầu thủ đổi sang giày với đinh dài hơn. Nhờ đó đội tuyển Đức đã có sự linh hoạt hơn và phút 84 đã ghi bàn ấn định chiến thắng. Trận đó đi vào lịch sử với tên «Sự kì diệu ở Bern».
Sau chiến thắng đó Adi nảy sinh ý tưởng đặt quảng cáo ngay trên sân vận động. Năm 1956 ông thỏa thuận với ủy ban Olympic về việc quảng cáo Adidas tại Olympic ở Melburn. Vậy là em trai đã vượt xa người anh, nhưng Rudolf không hề bỏ cuộc. Năm 1958 Puma ăn mừng chiến thắng đội tuyển Brazil, còn Rudi nắm bắt thời cơ và kiện khẩu hiệu «Adidas – giày thể thao tốt nhất thế giới!». Và đã thắng vụ kiện.

Thỏa thuận với Pele

Dù họ ghét nhau nhưng để tránh tăng giá trên thị trường quảng cáo nên các con trai của Rudolf và Adolf – Armin và Horst – đã có thỏa thuận với nhau là sẽ không kí hợp đồng với các cầu thủ xuất sắc nhất thế giới. Nhưng có thỏa thuận không có nghĩa là thực hiện theo. Thị trường Nam Mỹ rất tiềm năng đối với 2 anh em. Năm 1970 trước World Cup vài tháng, Armin Dassler thuê chuyên gia tư vấn đến Rio de Janeiro, để thuyết phục các cầu thủ Nam Mỹ là họ sẽ thi đấu tốt gấp đôi khi đi giày Puma. Vua bóng đá rơi vào tình huống khó xử: Puma mở ra chiến lược marketing rộng rãi nhưng không liên hệ với ông. Sau đó đại diện của Pele đã đưa ra mẫu hợp đồng cho Armin Dassler.
Puma đã trả tiền cho Pele để ông bắt đầu buộc dây giày ngay ở giữ sân trước khi trận đấu bắt đầu, để ai cũng nhìn thấy là vua bóng đá đi giày Puma:
https://www.youtube.com/watch?v=ZpYlGhsAXLE&feature=youtu.be

Horst Dassler vô cùng bức xúc khi biết điều đó. Cuộc chiến giữa những người cha trở thành cuộc chiến của những người con.

ADIDAS và PUMA Pele
ADIDAS và PUMA Pele

Kết thúc câu chuyện

Rudolf Dassler qua đời năm 1974 ở độ tuổi 76 vì ung thư phổi. Theo tin đồn thì đầu những năm 70 2 anh em bí mật gặp nhau vài lần, nhưng Adolf cũng không đến dự đám tang của anh trai, mà chỉ có cuộc gọi điện cho linh mục và nói rằng ông tha thứ cho anh trai. Adidas đã cho ra mắt mẫu mới sau sự kiện này với thông điệp: «Gia đình Adolf Dassler không muốn bình luận gì về việc Rudolf Dassler qua đời». Sau 4 năm Adi cũng qua đời.
Ngày này có SVĐ mang tên Adolf Dassler với tượng của ông ngồi trên khán đài.
Chiến tranh giữa 2 công ty kéo dài đến khi các người thừa kế của Adolf cũng có mẫu thuẫn với nhau và cuối cùng bán đi công ty với doanh thu nửa tỷ đô mỗi năm với giá 390 triệu.

(Nguồn FB Nam Nguyen)


VÌ SAO TRẦN ĐỨC THẢO CHỌN TRIẾT HỌC? DANH DỰ VÀ ĐẠO ĐỨC-SỐ PHẬN CỦA NHỮNG TRIẾT GIA THẾ KỶ 20

VÌ SAO TRẦN ĐỨC THẢO CHỌN TRIẾT HỌC

VÌ SAO TRẦN ĐỨC THẢO CHỌN TRIẾT HỌC? DANH DỰ VÀ ĐẠO ĐỨC-SỐ PHẬN CỦA NHỮNG TRIẾT GIA THẾ KỶ 20

(Câu hỏi rất hay mà tôi mãi tò mò: tài năng như Trần Đức Thảo học môn gì chả được, sao lại học triết? Triết gia có gì khác các nhà bác học của các bộ môn khác không? Một số suy nghĩ, kết hợp với tư liệu của tác giả Le Dan Thu Thuy và Lê Tâm)



Bác Thảo ôn lại thời niên thiếu, rồi phân tích cho thấy mọi sự đã như được cấy vào trong tiềm thức từ lúc còn non trẻ. Lúc ấy, sau khi đã đậu tú tài phần một, học sinh phải chọn một trong ba ban để chuẩn bị thi tú tài phần hai tức là chọn một trong ba lớp học cuối của bậc trung học: hoặc ban toán, hoặc ban khoa học tự nhiên, hoặc ban triết. Thảo đã chọn lớp triết, tức là dự tính sau này sẽ theo học ban văn chương ở bậc Đại học. Bởi đã có chút thành tích về luận văn, Thảo có dự tính sau này sẽ học chuyên về những khoa nhân văn mà mình ưa thích.

Nhớ lại lúc thi môn viết của tam cá nguyệt cuối niên học, giáo sư Ner, trả lại bài luận triết vừa chấm. Bài của Thảo đứng đầu như thường lệ, nhưng với điểm cao không ngờ: 16 trên 20! Thông thường Thảo chỉ đứng đầu với điểm 13 hay 14 điểm là cùng. Lần ấy, Thảo còn nhớ rõ, đề thi là bình giải một câu của Léon Bourgeois: “Danh dự cũng có thể là một nền tảng của đạo đức”.

Cả lớp, trừ Thảo, đều dài dòng tìm cách minh chứng câu đó với những bằng chứng, điển tích, nêu ra các hành động mưu tìm danh vọng qua các công trình vĩ đại, các chiến thắng vinh quang của những vĩ nhân thường thấy trong lịch sử thế giới. Tất cả như đã hành động vì danh dự để mang lại vinh quang cho xứ sở. Riêng chỉ có Thảo là đã bình bàn theo hướng khác hẳn.


Thảo chuẩn bị vào để bằng cách định nghĩa, phân tích kỹ khái niệm danh dự về mặt tâm lý và xã hội để chỉ ra rằng danh dự là một thuộc tính được ban tặng cho con người, từ bên ngoài, nghĩa là một giá trị do người đời khen tặng, chứ bản thân không thể trực tiếp đi tìm… mà lấy được. Danh dự chỉ đến với những con người sống đức hạnh, có lương tri, biết hoàn thành trọn vẹn công việc của mình, dù đấy là một công việc khiêm tốn; Như thế thì mọi người đều có thể có danh dự, chứ danh dự không phải là riêng của những kẻ có chức, có quyền trong xã hội. Nhưng do ngộ nhận mà danh dự đã bị coi là một khả năng kích thích con người có hành động đẹp đẽ, vĩ đại, theo xu hướng khoa trương, phù phiếm bề ngoài, để tạo ra “danh dự”, hay vinh dự cho chính mình. Bởi khi đó danh dự đã bị đồng hoá với danh vọng, vinh dự mà người Pháp gọi là ”les honneurs”. Thông thường, danh vọng có khả năng kích thích tâm lý, có thể làm cho con người u mê đến mức sa đoạ, y như là một thứ thuốc phiện! Người ta đam mê chạy theo danh vọng, tìm vinh dự, rồi tự biến mình thành kẻ khoe khoang, kiêu ngạo, hoang tưởng chạy theo những trò trang trí phù phiếm, hào nhoáng bề ngoài. Tranh đua nhau trên con đường danh vọng thường làm cho mình thành ích kỷ, thấp hèn: muốn dìm mọi người chung quanh xuống, để đề cao mình lên. Danh vọng đã đẻ ra một cấp trên kiêu ngạo, một cấp dưới nịnh nọt… Tệ nạn nịnh nọt cấp trên thường là phải bóp méo, xuyên tạc sự thật. Nó có thể cải trang một người bình thường thành kẻ kiêu căng tự đắc, một nhà chính trị thành một lãnh tụ độc tài, đam mê quyền lực, điên cuồng khao khát danh vọng, quan liêu cửa quyền đến mức hành động, nói năng như cha mẹ của dân, rồi muốn được tôn vinh làm cha dân tộc!

Về mặt tâm lý và xã hội, danh dự phải được hiểu một cách hết sức sáng suốt, hết sức thận trọng để tránh xa những mục tiêu của danh vọng. Danh dự cũng như hạnh phúc, không thể tìm kiếm, không thể mua chuộc nó một cách trực tiếp, bằng quyền lực hay tiền bạc, như người ta vẫn đi tìm kiếm danh vọng. Danh dự chỉ tới, một cách gián tiếp từ bên ngoài, với những ai không chủ tâm tìm kiếm nó, nhưng biết sống một cách xứng đáng, có lương tri, sống tử tế với mọi người, sống ngay thẳng, trong sạch ở mọi hoàn cảnh, biết làm tròn nhiệm vụ của mình, dù đó là của một công việc khiêm tốn nhất… sống như thế là sống thật sự có ích cho mọi người, là làm đẹp cho xã hội. Danh dự do đó quả thật là một nền tảng của đạo đức. Nhưng khốn nỗi, người đời vẫn thường nham lẫn danh dự với danh vọng. Do vậy nên danh dự, khi bị hiểu lầm, thì nó lá cái bả khiến con người chạy theo nó, tìm kiếm nó, mua bán nó… để rồi nó biến xã hội thành một môi trường giả dối, háo danh, phù du, ưa phô trương cái mẽ bề ngoài, che giấu cái trống rỗng, kém cỏi, xấu xa bên trong… Không thiếu gì xã hội, trong đó con người ngông cuồng khao khát danh vọng, một xã hội chỉ trọng vọng bề ngoài, chỉ trưng khoe thành tích giả tạo một cách bệnh hoạn. Một thí dụ điển hình về mặt tiêu cực của danh vọng là thói háo danh với bằng cấp. Bằng cấp chỉ là một hình thức chứng thực khả năng. Nhưng nay bằng cấp đã bị coi như là thứ áo mão gấm hoa, loè loẹt màu sắc, để phô trương. Nó đã tạo ra cái thói trưng diện bằng cấp trước cái tên của mình. Tự xưng mình là tiến sĩ này, thạc sĩ nọ, thủ trưởng cơ quan này, giám đốc công sở kia…! Danh dự của một người có học, có tri thức là biết sống không ồn ào, không khoa trương, biết chứng tỏ trình độ bằng kết quả của việc làm, khác hẳn với kẻ đã tự đồng hoá mình với danh dự bằng những hành động khoa trương chức tước, bằng cấp! Từ sự hiểu sai ý nghĩa của bằng cấp mà nó đã bêu xấu con người, làm hỏng nền giáo dục. Tình trạng đó có thể phá hoại xã hội. Khi danh dự bị nhầm lẫn với danh vọng, thì nó đã đưa tới sự gian lận trong thi cử, mua bán bằng cấp, chạy chọt chức tước cứ y như mua bán áo mão màu sắc lòe loẹt hào nhoáng để trưng diện. Bởi khi danh dự bị đồng hoá với danh vọng, thì nó là một cái bả tâm lý, làm hoen ố nhân phẩm, làm mất tự trọng, mất tỉnh táo nên không phân biệt được đầu là giá trị nội tại bền vững đích thực của luân thường đạo lý, đâu là hư danh xấu xa phù phiếm, dối trá khoe khoang bề ngoài…. Danh dự khi bị nhầm lẫn với danh vọng thì có thể đưa con người và xã hội đi rất xa về phía tiêu cực.

Sau khi nêu nhiều bằng chứng về thành tích được coi là danh dự của những người có cuộc sống khiêm tốn và đã bị đời coi thường, bỏ quên… Thảo nhắc lại rằng vì những thành tích vinh quang, đầy danh vọng của những kẻ có quyền lực, mà có người đã được hậu thế ca ngợi, có khi còn được tôn thờ như thánh nhân. Rồi Thảo đưa ra phản đề khá mạnh mẽ: những thành tích mưu cầu vinh quang danh vọng một cách đam mê, cố mưu tìm chiến thắng kiểu Pyrrhus, cố tạo ra những công trình vĩ dại như Kim Tự Tháp, như Vạn Lý Trưởng Thành… Và nhầm lẫn đấy là những thành tích của danh dự. Thực ra là những công trình vĩ đại ấy không thể là biểu tượng cho danh dự với đạo đức, đạo lý! Vì chiến thắng như thế là phung phí xương máu quân lính, vĩ đại như thế phung phí mồ hôi, nước mắt của dân chúng. Chúng không mang tính đạo đức và nhân bản. Vì vậy mà nhiều nhà lãnh đạo quyền lực lớn trong lịch sử chẳng thể trở thành một nhà đạo đức, càng không thể là thánh nhân! Thảo nêu ra những trường hợp đời thường, trong đó không hiếm những lãnh tụ chỉ vì cao ngạo, khát khao được trọng vọng như những Tần Thuỷ Hoàng, Napoléon… là những kẻ đã sẵn sàng phung phí máu xương quân lính, coi rẻ tính mạng, công sức lao động của nhân dân. Những nhà lãnh đạo ấy đã kích thích, thúc ép dân phải trở thành anh hùng, phải trở thành vĩ đại để tạo ra những thành tích vẻ vang, phi thường… cho họ. Vì thế mà hành động mưu tìm danh vọng thường là phản công lý, phản đạo lý. Rồi Thảo kết luận: người ta ưa ca ngợi, một cách nhầm lẫn, những thành tích vinh quang, vĩ đại… mà bỏ qua, hoặc bỏ quên khía cạnh vô nhân đạo, bất công của những hành động đã ép buộc nhân dân thấp cổ bé miệng phải gánh chịu biết bao hi sinh gian khổ để dựng lên nhũng thành tích ấy. Vì đấy, dù thế nào, thì cũng chỉ là những hành động tàn bạo, háo danh, thiếu công lý, thiếu đạo lý. Những thành tích vĩ đại ấy, những kỳ công vinh quang ấy, vì không công lý, không nhân đạo nên nó không thể là trở thành mẫu mực cho đạo đức! Một danh nhân, một ông vua, trong lịch sử, do những thành tích chính trị hay quân sự phi thường, thường được đám nịnh thần tâng bốc, ca ngợi đến mức sùng bái như một vĩ nhân, một thánh nhân, nhưng thật sự đấy chỉ là một lãnh chúa đầy tham vọng, đầy mưu trí nham hiểm, tàn nhẫn, độc ác! Người ta yêu thích danh vọng, tưởng như đó là danh dự. Sự đam mê danh vọng và quyền lực như thế là thiêu huỷ tính nhân bản trong những con ngườí muốn có sự nghiệp vĩ đại. Con người bình thường không chỉ sống vì danh vọng! Trong thực tế, thời có nhiều thành tích, công trình vĩ đại thường là những giai đoạn bi thảm đen tối, đẫm máu trong lịch sử nhân loại! Vì một lẽ giản dị là nó thiếu tính nhân bản, thiếu tính đạo lý. Nhân loại bình thường không sống để đì tìm danh dự trong danh vọng. Nhân loại bình thường không phải toàn là thánh nhân và anh hùng! Bởi con đường của những thánh nhân, của những anh hùng, với ý nghĩa cao cả của nó, là con đường tuẫn đạo, là con đường hi sinh có ý thức vì nghĩa vụ đối với con người. Khác với con đường của những kẻ u mê cuồng tín lao mình vào những hành động đầy máu và nước mắt, dù cho đấy là con đường tạo ra vinh quang, vĩ đại, nhưng đấy không phải là con đường của đạo đức! Trong lịch sứ, cái thời đầy vinh quang, đầy anh hùng của một dân tộc, thường là thời đau đớn đầy hi sinh, gian khổ, đầy máu và nước mắt, đầy hận thù và tội ác… rất phản đạo đức, phản con người… vì thời ấy bắt đám cùng dân phải trà giá bằng mồ hôi, nước mắt, bằng xương máu và tính mạng! Danh dự và đạo đức thực ra là những giá trị cộng sinh tự nhiên, chúng không phải là những ỉhuộc tính chỉ dành cho những vĩ nhân. Trong thực tế, danh dự là một giá trị kín đáo của con người nói chung, trong những hoàn cảnh sống bình thường, khiêm tốn trong xã hội, nên người ta không thấy, vì ít được ai để ý tới. Xưa nay, người đời chi nói tới, chỉ đề cao danh dự của những ông lớn có đầy danh vọng. Do vậy mà chúng ta dễ ngộ nhận, khi đọc tiểu sử của những vĩ nhân, mà không thấy được những tấm gương sảng về mặt đạo đức trong đám người thấp cổ bé miệng trong xã hội. Chính ở nơi những mẫu người khiêm tốn ấy, ta mới thấy rõ được rằng danh dự quả thật là nền tảng của đạo đức. Trong giá trị danh dự âm thầm, khiêm tốn đó, mới thấy người đời sống như thể đích thực là có đạo đức!

Khi chấm bài, bên lề phần kết luận, giáo sư Ner đã phê: “Có nhiều ý triết lý!” Bài của Thảo được đọc cho cả lớp nghe. Sự khen ngợi đó đã vĩnh viễn in sâu vào trí óc non nớt của Thảo. Người thày dạy triết còn nhấn mạnh thêm: ai cũng có thể cố học để trở thành bác sỹ, kỹ sư. Nhưng không phải ai cũng có thể học để trở thành một triết nhân. Đạt đỉnh cao trong triết học đòi hỏi phải có bộ óc minh triết, mẫn tuệ hơn người. Trong nhân loại, suốt trong chiều dài lịch sử, triết nhân chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ở Pháp kẻ theo học ban triết ở Đại học đều được nể trọng vì có bộ óc minh triết hơn người. Thảo nghe vậy, khoái lắm, nhớ mãi….

Sau này trong cuộc đời ông đã nhiều phen phải đưa ra quyết định liên quan đến đạo đức, danh dự; và ông đã thể hiện được khí tiết của nhà triết học hàng đầu. Trần Đức Thảo, khi cần cũng đã tỏ ra có khí phách của một người con chân chính của dân tộc Việt Nam anh hùng, người triết gia đó khi cần cũng biết cầm súng. Sau khi Hồ Chủ Tịch tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945, trong khi toàn dân Việt Nam đang say sưa với lời tuyên bố lịch sử đó, thì bọn thực dân Pháp đã chuẩn bị cho Leclerc (vị tướng nổi tiếng của nước Pháp đã chiếm lại thủ đô Paris năm 1945 lúc đó còn đang bị phát xít Đức chiếm đóng) cầm đầu một đội quan Pháp và lê dương hùng mạnh để chiếm lại Sài Gòn bằng thuỷ lục không quân… Bà con Việt Kiều ta ở Paris rất phẫn uất, và một sáng ngày tháng 9 năm 1945, Trần Đức Thảo đã cùng với vài chục anh em lao động việt kiều ở Paris mở một cuộc họp báo đê tỏ rõ sự phẫn uất này. Khi một nhà báo hỏi: nếu Leclerc đổ bộ Sài Gòn thì người dân Việt Nam sẽ đối xử như thế nào? Trần Đức Thảo trả lời ngay: “Chúng tôi sẽ nổ súng!” và ngay sau câu trả lời đó cảnh sát Paris đã bắt Trần Đức Thảo và mấy chục anh em lao động dẫn vào tù mặc dù quần chúng la ó phản đối. Thảo ở tù mấy tháng như một người phạm tội vào loại trọng tội lớn nhất của Pháp là tội đe doạ nền an ninh của nước Pháp. Sau vài tháng giam tù không xử xét nhưng cũng bị đối xử tệ bạc trong tù, nhờ ở ngoài Việt Kiều và quần chúng tốt Pháp biểu tình, la lối phản đối và cũng nhờ tin phái đoàn Hồ Chủ Tịch sắp qua Paris để thương thuyết nên Trần Đức Thảo và anh em lao động mới được ra tù…

Nhìn lại cuộc đời vinh quang và đắng cay muôn phần của ông (mà các bạn chắc đều đã biết) và của một số triết gia thế kỷ 20 khác, tôi hiểu được rằng thời đại này triết gia đúng nghĩa không chỉ đắm mình trong thư viện hay viết lách những chuyện giáo điều, mà còn phải hành động, và làm tấm gương cho thế hệ mình. Quay lại câu chuyện về Sartre – đối thủ của Thảo trong cuộc kiện cáo lịch sử, ông đã thể hiện điều đó hết mình trong quãng đời còn lại, chứ không như đánh giá quá nặng của triết gia Thảo là “mô-ve”!

Sartre tốt nghiệp Sư phạm Paris trước Thảo nhiều năm, sớm trở thành một trong những nhà triết gia hàng đầu của nước Pháp, cùng với người bạn gái chung chí hướng và rất nổi tiếng Simone de Beauvoir. Là những người đại diện ưu tú nhất cho chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp, nhưng cuộc đời họ không chỉ có lối sống phóng túng hay tiệc tùng hào nhoáng-cả cuộc đời họ, họ luôn công khai ủng hộ cho phe yếu, những kẻ bị áp bức. Từ thời Đức quốc xã chiếm đóng Pháp, họ đã đứng về hàng ngũ chống phát xít quyết liệt. Sau này họ cùng nhau lập ra tạp chí “Thời đại mới”. Họ chống lại hình thức thực dân kiểu mới ở Algeria, chống các hình thức tra tấn, chống bạo lực của kẻ mạnh-chính là chính phủ mới của Pháp. Sau nhiều lần bị đe dọa trực tiếp, bọn dân tộc chủ nghĩa vũ trang của Pháp đã 2 lần giật mìn nổ tung căn hộ của Sartre ở Paris, và 5 lần dùng vũ lực chiếm tòa soạn “Thời đại mới) (có thể liên tưởng đến sự kiện Charlie Hebdo mới đây…). Từ 1953 ông đã là thành viên của Hội đồng Hòa bình thế giới.

Sartre – cũng như rất nhiều tri thức khác – rất ủng hộ chính quyền cách mạng ở Cuba, ủng hộ hết mình Castro và Che Gevuara (và “tình cảm” này chỉ chấm dứt vào 1971 khi Cuba bỏ tù nhà thơ Padillia vì đả phá chế độ…). Ông và Simone tham gia điều trần về diệt chủng tại Việt Nam, Algeria, ủng hộ những người có ý thức hệ khác ở CCCP, chống lại việc Liên Xô đàn áp Hungary 1956, chống đối việc Liên Xô đưa quân vào Praha … Ông chống lại chiến tranh Việt Nam từ cả hai phía (Mỹ và Bắc Việt)! Lúc cuối đời, một trí thức tả khuynh như Sartre đã lên án những người cộng sản Việt Nam khi thấy làn sóng thuyền nhân. Trong năm cuối cùng của đời mình, ông đã cùng với các trí thức Pháp vào Điện Élysée gặp Tổng thống Giscard D’ Estaing yêu cầu giúp đỡ những người Việt tị nạn…


Là nhà triết học đồng thời là nhà văn lớn, vì tự do trong hành động và sáng tác, ông luôn từ chối những giải thưởng, để không bị bất cứ áp lực nào trong suy nghĩ và hành động. 1945 ông từ chối Huân chương Danh dự của Pháp, 1964 ông từ chối giải thưởng Nobel về văn học… Tuy luôn thẳng thừng chỉ trích chế độ Xô viết, nhưng một trong những lý do buộc ông từ chối giải Nobel là “khuynh hướng bài xích Liên Xô rõ rệt của Hội đồng xét giải”. Cả cuộc đời, ông luôn là người tả khuynh!

Kể cả khi đã nhiều tuổi, Sartre vẫn đi đầu trong phong trào biểu tình của sinh viên Paris (thực ra ông là linh hồn của phong trào này!). Một lần ông bị bắt, toàn giới sinh viên nổi giận, De Gaulle đã ra lệnh thả ngay, vì “ở nước Pháp này những người như Voltaire không bao giờ được bắt!”. Vào năm 1968 khi có cuộc cách mạng nổ ra tại Pháp, sinh viên chiếm lĩnh đại học Sorbonne, người duy nhất được sinh viên mời vào trường, đó là Sartre!

So sánh cuộc đời của hai triết gia kiệt xuất đều là cựu sinh viên từ trường Sư phạm Paris này, ta có thể thấy vài điểm rất khác biệt: Sartre nhiều lần thay đổi quan điểm chính trị, triết lý còn Trần Đức Thảo thì không; Thảo chết trong cô đơn hoàn toàn, còn đám tang Sartre có 50000 người dân Paris đã tham gia. Họ đều xứng đáng là những triết gia kiệt xuất của thế kỷ 20, không chỉ vì tài năng vượt trội của mình, mà đầu tiên, vì họ đã là những người dũng cảm!

Bài khác để tham khảo: http://www.viet-studies.info/TDTh…/Feron_TranDucThaoLaAi.htm

(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/819026858159253)

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP – 1946

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP - 1946

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP – 1946

(Dành cho người yêu lịch sử)

Sau loạt bài liên quan đến chuyến đi của cụ Hồ sang Paris năm 1946 những người yêu lịch sử như anh Lê Viết Thái, Sơn Kiều Mai đã chia sẻ thêm nhiều tư liệu quý giá của những tháng năm đó, qua đó phần nào cho ta thấy được tâm tư của những con người trí thức xa quê hương nhưng luôn hướng về cố quốc.



Ví dụ văn bản sau, là Tuyên bố của các trí thức tại Pháp được ký bởi nhiều vị đã và đang sống và học tập tại Pháp (trong ảnh là chữ ký của hai cựu sinh viên trường Cầu Đường Paris là ông Lê Viết Hường và ông Nguyễn Hy Hiền. Ông Hiền quê ở Thừa Thiên-Huế, về nước cùng nhiều tri thức khác trên chiếc tàu chuyến thứ hai là “Felix Roussel” cuối năm 1946 rồi ra nhập chiến khu Rừng Sác, ông Hường về nước cuối năm 1949 về Bangkok rồi theo đường bộ đi ra nhập chiến khu Việt Bắc).

“TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT CƯ TRÚ TẠI PHÁP

tuyên bố đoàn kết nhất trí cao với các Trí thức Việt Nam những người đã ký, vào ngày 2 tháng 4 năm 1946, tại Hà Nội, Bản đề nghị với nội dung như sau:

Các trí thức Việt Nam, cho rằng nước Cộng hòa Việt Nam là một nhà nước tự do mà lãnh thổ không thể bị xâm phạm; và rằng, về mặt địa lý, lịch sử, dân tộc, kinh tế, Nam Kỳ luôn là một phần không thể tách rời của Việt Nam.
Xét thấy rằng Nhà nước Việt Nam tự do, với tư cách là một nhà nước có chủ quyền, không thể tuân theo chủ quyền của một quốc gia khác; Nhà nước Việt Nam tự do chỉ có thể phụ thuộc vào chính ý chí tự do của bản thân.
Xét thấy rằng các sự việc đáng tiếc gây ra bởi một số yếu tố Pháp mang tính thực dân, thể hiện ý muốn thù địch đối với việc Việt Nam thực thi các quyền chủ quyền, và nhất là với việc áp dụng Thỏa thuận Đình chiến, trên phần Lãnh thổ Nam Kỳ.
Xét thấy rằng các cuộc đàm phán chính thức giữa hai Chính phủ Pháp và Việt Nam, vì lợi ích chung của các dân tộc Pháp và Việt Nam, đã không đạt được kết quả như nhà nước thực dân này hy vọng:

Vì những lý do trên:
Phản kháng mạnh mẽ, chống lại mọi nỗ lực cố tình làm suy yếu sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và nhất là chống lại sự tách rời của Nam Kỳ;
Phản đối mạnh mẽ, chống lại mọi nỗ lực cố tình tạo ra, hoặc khôi phục, các thực thể có thể gây hạn chế chủ quyền của Nhà nước Việt Nam;
Phản đối việc tiếp tục các hoạt động quân sự ở Nam Kỳ, của quân đội Pháp, nhằm chống lại quân đội Việt Nam, vi phạm Thỏa thuận đình chiến;

Phản đối bất kỳ sự chiếm đóng nào bởi các đơn vị hành chính công trên lãnh thổ Việt Nam, mà không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam; yêu cầu các cuộc đàm phán được quy định trong Công ước tháng 3 năm 1946 phải được tiến hành ngay lập tức tại Paris.

Paris, ngày 11 tháng 5 năm 1946.”
&&&&&

Hay một số báo “Cứu quốc” ngày 24/10/1946 đã có những bài rất hay về Hồ Chủ tịch và những trí thức mới về nước cùng cụ từ bên Pháp:

“LỜI TUYÊN BỐ CỦA Hồ Chủ tịch

Sau khi về dinh Chủ tịch chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, Hồ Chủ tịch, ngoài việc tiếp các đoàn thể, các đại biểu báo giới, chính giới, đã phát biểu lời tuyên bố, một lần nữa, tỏ rõ sự săn sóc và ý nghĨ của Người đối với hết thẩy những vấn đề quan hệ đến nước Việt Nam.

Bằng một giọng gọn gàng mà đầy đủ, lời tuyên bố trước hết vạch rõ chính sách ngoại giao và nội trị của Chính phủ Việt Nam.

Về ngoại giao, nước Việt Nam đã quyết định:
– Thân thiện với các nước Mỹ, Trung Hoa, Anh v.v.

– Hợp tác thành thực với người Pháp. Nhưng sự hợp tác phải xây dựng trên căn bản tự do và bình đẳng. Câu: “Việt Nam nhất định độc lập. Trung Nam Bắc nhất định thống nhất” trong lời tuyên bố đã chứng tỏ sự tha thiết và sự quyết tâm của Chủ tịch và của dân tộc Việt Nam đối với nền thống nhất và độc lập của nước Việt Nam.

Về nội trị Chính phủ Việt Nam vẫn cố theo đuổi chính sách tập trung tất thẩy lực lượng của các tầng lớp dân chúng. Các đảng phái, các tôn giáo vào một khối đoàn kết của toàn dân, để:
– Dành, giữ tự do và độc lập
– Kiến thiết nước Việt Nam mới

Đó là những nét lớn trong chính sách của Chính phủ Việt Nam do Hồ Chủ tịch vạch ra trong lời tuyên bố.


Bên cạnh những nét lớn ấy và bao trùm ấy những nét ấy là tấm lòng của Chủ tịch. Lòng tha thiết của Chủ tịch chia sẻ và chú trọng đến cả mọi người. Về phương diện này, mỗi câu mỗi chữ là chứa nặng một cảm tình chí thiết. Những cảm tình ấy hướng về Nam, về người Việt ở miền Nam nhiều hơn hết, vì đồng bào ở miền Nam đau khổ hơn hết, hi sinh nhiều hơn hết, chiến đấu gay go hơn hết và do đó rất xứng đáng sự săn sóc của Người và của quốc dân.

Tóm lại lời tuyên bố của Hồ Chủ tịch cho ta thấy chính sách của nước Việt Nam đã rạng rỡ ra bởi cái lý trí sáng suốt và sắt đá của Người. Nhưng coi chính sách của lý trí ấy, đã được dịu đi và thắm lại bởi cảm tình dào dạt của Người.
Chính vì vậy, lời tuyên bố vừa có cái giọng nghiêm nghị, mạnh mẽ của vị Thủ lĩnh, vừa có cái giọng đầm ấm mặn mà của một người Cha.
Trí của Chủ tịch là ở đây, lòng của Chủ tịch cũng ở đây, và sức mạnh của Chủ tịch cũng ở đây…”.
&&&&&

Một bài phỏng vấn có lẽ là đầu tiên của 2 đại diện trí thức từ Pháp về:

ĐI THĂM HAI KỸ SƯ MỚI Ở PHÁP VỀ

Kiều bào ở Pháp có 50 người học về các ngành chuyên môn.
Điều cần thiết là xứ mình cần có kỹ nghệ thì có thể đào tạo được ngay nhân tài chuyên môn (Lời ông Lễ)
Tôi đã gặp hai ông Phạm Quang Lễ – kỹ sư cầu cống và Võ Đình Quỳnh – kỹ sư khoáng chất, mới ở Pháp về cùng Hồ Chủ tịch, tại phòng Nam Bộ, đường Gia Định.
Ông Lễ đã đứng tuổi, ông qua Pháp đã 11 năm. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư cầu cống, ông theo đuổi nghề trong ít lần, rồi tìm một ngành chuyên môn khác để học thêm.
Ông Quỳnh hãy còn trẻ lắm. Ông sang Pháp từ năm 1939. Hồi đó ông mới 20 tuổi. Ông tốt nghiệp kỹ sư tại 1 trường Khoáng chất lớn nhất ở Ba Lê.
Ngoài ông Quỳnh còn có ba nhà chuyên môn về mỏ, là ba ông Trần Minh, Hoàng Kinh và Bài. Hai ông Minh và Kinh đã đỗ bằng kỹ sư rồi, hiện đang làm tạp sự trong mỏ. Ông Bái còn đang học.

Cả ba ông đó đều học ở trường Xanh-tê-chiên (Saint Etienne), một trường khoáng chất lớn ngang bằng với trường Khoáng chất Ba-Lê.

Ông Quỳnh thấy ông về nước lúc này là rất hợp thời. Ông nói:
– Chúng tôi về đây cần phải thực hành ngay, và phải hoạt động thật gấp.

Thế nhưng ông đã dè dạt quá trong khi ông phát biểu ý kiến về những lợi ích mà các nhà chuyên môn mà các nhà chuyên môn ở ngoại quốc đã về hay sắp về nước có thể giúp cho Tổ quốc đang lúc hiếm người tài giỏi
– Chúng tôi, ông nói, chỉ muốn chờ cái kết quả nó sẽ nói nhiều hơn là những lời chúng tôi nói bây giờ.

Tuy nhiên, trong câu chuyện thân mật, ông Quỳnh cũng đã cho tôi biết đôi điều:
– Nếu có sự chỉnh đốn về kỹ nghệ, có thể dùng ngay được các nhà chuyên môn khoáng chất ở nước ngoài về.

Nhưng lo nhất về sự thiếu máy móc, ở nước ta có hai miền nhiều mỏ là miền Bắc và miền Trung. Phải lo làm sao cho có bao nhiêu kỹ sư khoáng chất phải được dùng hết vào việc mỏ ở hai miền đó.

Kỹ sư Phạm Quang Lễ cho tôi biết gần hết những điều tôi muốn đem ra đây làm chút quà của mấy đồng bào ta vừa mới ở Pháp mang về.
Kiều bào ta ở Pháp có tới 50 người học về các ngành chuyên môn. Hiện nay phần đông ở Ba lê, còn ở Tu lu (Toulouse) và Boóc đô (Bordeaux) rải rác có đôi người. Kỹ sư cầu cống cũng chiếm một số nhiều trong những ngành người mình theo học: điện học, hóa học, khoa học, khoáng chất, luật học, y học. Những người chuyên môn cần thiết cho nước nhà trong lúc cần phải kiến thiết thật nhiều này sở dĩ không có mấy là vì ngày trước, được đi du học, người mình có nghĩ đến cái mục đích học rồi về giúp nước đâu. Học là vì muốn có danh vọng. Học là muốn có một nghề nó nuôi sống mình. Thế thôi. Nên ai thích gì học nấy. Cái mà mình cho là có danh vọng hơn cả là nghề thuốc và luật. Các ông y khoa bác sĩ và luật khoa tiến sĩ ta có nhiều quá, nếu đem so với các ngành chuyên khoa khác. Nhiều không phải là thừa. Nhưng nếu có được một số kỹ sư hóa học, kỹ sư khoáng chất tương đương với số bác sĩ, trạng sư, thật là sự may mắn lớn cho nước nhà trong giai đoạn lịch sử này.

Ông Lễ cho tôi biết về óc thông minh của đồng bào ta theo học ở ngoại quốc:
– Mình không thua người ta về một phương diện nào. Điều cần là ở nước mình có kỹ nghệ trong xứ thế nào cũng đào tạo được nhiều về chuyên môn. Thí dụ, nước mình có trường thuốc, số người tốt nghiệp về ngành đó rất nhiều.

Rồi với 1 giọng đầy tin tưởng, kỹ sư Lễ nói đến sự hoạt động của các nhà chuyên môn ta khi nghĩ đến việc về quê hương để giúp nước.
– Chúng tôi lo nghiên cứu chương trình để về nước hợp tác với anh em kỹ sư ở đây, chúng tôi cũng đã nghĩ đến mua máy móc. Nhưng có tiền để mua cũng đã khó khăn lắm. Lại còn điều khó nữa là phải mua ở các nước khác, chứ chính nước Pháp cũng thiếu máy lắm.

“Có người chuyên môn để lo mở mang kỹ nghệ là việc gấp. Cần lắm, ta có thể mở trường đào tạo cấp tốc một số người. Thiếu máy móc cho họ học thực hành, có thể dạy cho họ lý thuyết, rồi khi có máy cho họ học qua máy cũng mau lắm.
Nói thế là đã giải quyết tạm bợ thôi. Phải lo gửi ngay người đi ngoại quốc học.

Sang Pháp các trường chuyên môn không đủ cho mình học. Phải qua Mỹ, qua Anh, qua Bỉ, qua Thụy Sĩ. Học về mỏ, tốt nhất là qua Mỹ và Thụy Sĩ. Số người gửi đi, phải cho theo chuyên môn cấp tốc về mỏ, hóa học, đúc, nấu quặng, kỹ nghệ nặng.

Trong việc gửi người đi nước ngoài, có khó là về giao thông. Còn tiền bạc, không hết nhiều lắm. Ở miền mỏ Lie-giơ (Liêge) mỗi tháng chừng một ngàn quan là theo thời giá đắt đỏ bây giờ. Qua Liê-giơ, ta có hy vọng học được nhiều. Là vì người Thụy Sĩ tốt lắm. Họ có thể hết sức dễ dàng trong việc thu nhận sinh viên của ta gửi sang, miễn là sinh viên ta phải sõi tiếng Anh và tiếng Đức. Nhờ có Anh Đức Hội, mấy giáo sư người Thụy Sĩ rất có cảm tình với ta. Và người Thụy Sĩ họ đã biết nhiều đến nước Việt Nam ta rồi, họ mến ta lắm”.

Cuối cùng, ông Lễ cho tôi biết thêm rằng ông Hoàng Minh Giám và hai ông Mai, Danh đã làm việc ráo riết để đưa một số sinh viên và nhà chuyên môn ta về nước. Có hi vọng cuối tháng này hay trong tháng tới kiều bào đó đã về tới nhà.

Rồi, cuối cùng, ông Lễ kết luận:
– Lúc về tới nước nhà, tôi có cảm tưởng rằng người mình khổ sở trên hết các dân tộc khác. Trái lại, chúng ta có thua họ về phương diện nào đâu. Tài, chúng ta có thừa. Nước ta lại rất nhiều nguyên liệu. Cho nên muốn giữ vững độc lập, chúng ta phải có kỹ nghệ. Và phải kỹ nghệ hóa nữa”.

Qua đó ta thấy được viễn kiến của ông Lễ (Trần Đại Nghĩa) về việc giáo dục các ngành nghề cấp thiết cho thanh niên Việt Nam trong gia đoạn mới. Không có gì lạ, rằng chính ông sau này là Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội.


Tham khảo thêm: http://m.cand.com.vn/…/Hai-anh-em-ruot-Vo-Dinh-Quynh—Vo…/…

(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2165751710153421)

TẾT Ở HUẾ THƯƠNG (năm 1926)

Tet O Hue Thuong 1926

TẾT Ở HUẾ THƯƠNG (năm 1926)

(Bài đăng lại của 09/2/2016)

Tôi quê ở Thừa Thiên-Huế nhưng chưa từng được đón cái Tết nào tại quê, thế nên khá tò mò về việc ông cha ngày xưa đón Tết như thế nào. May sao đầu xuân này được nghe câu chuyện của những người con xứ Huế về Tết trên quê hương những năm xưa, trong đó có một cụ là nhân chứng sống của Huế một thời đã xa, vậy tôi xin cụ kể về Tết những năm cách bây giờ 90-100 năm và cố gắng ghi lại cái không khí Tết lúc đó…



Phải nói ngay nhiều nét ăn Tết của Huế giống với của Hà Nội sau này (người Huế nói là Hà Nội bắt chước theo Huế, vì ngày đó Huế là đất của vua, là thủ phủ của Trung kỳ từ Thanh Hóa đến Bình Thuận nên dù Bắc Kỳ có khâm sai, Nam Kỳ có khâm sứ cai quản nhưng ít nhiều cũng bị ảnh hưởng của đất thần kinh). Thành phố Huế lúc đó bé tí nên câu chuyện sẽ kể về cái Tết của cả dân thị thành (thường giàu có) và dân ngoại thành (đa số nghèo hơn nhưng cũng có nhiều địa chủ, quan lại… ở ngoài thành phố).

Tết âm lịch tất nhiên là một ngày lễ rất quan trọng cho dân Việt thời đó mặc dù Pháp đã đưa dương lịch vào đời sống Việt (cái khác biệt và có thể là lợi ích lớn nhất của dương lịch cho người dân, đúng như Anhxtanh đã nhận xét, là cho người ta ngày chủ nhật là ngày nghỉ!). Từ sau rằm tháng chạp trở đi nhà nào cũng tự làm bánh trái chứ không mua (vừa tốn tiền vừa không ngon): bánh chưng, bánh tét, bánh nổ (có những hạt như hạt ngô, nhuộm xanh đỏ, cho vào lò thì nở ra). Quảng Nam thì có bánh “ổ” – khá giống xôi nếp ép với đường, quế… học trò xứ Quảng hay mang ra Huế để dâng các thầy. Gần tết sẽ mổ lợn nếu nhà khá giả, nhà giàu hẳn thì mổ bò, còn dân thường thì mổ gà thôi. Hoa quả phổ biến vào tháng đó ở Huế là chuối, dứa (“thơm”), bòn bon, chôm chôm, bưởi (loại ngon là thanh trà), roi (gọi là “mận”) mít, quýt… Không có dưa hấu, dưa bở, táo, mận… Nhà nghèo tết vẫn phải ăn khoai, sắn. Hoa mai vàng thường được trồng sẵn trong vườn (mai, lan, cúc trúc đều có nếu vườn rộng) chứ không chặt mang vào trong nhà, và hoa mai vàng cứ đến Tết sẽ nở ngoài vườn rất đẹp. Bàn thờ nhà nào cũng bày rượu Phông-ten do Tây bán (thời đó rượu “nội” – quốc hồn quốc túy – bị coi là rượu lậu), ai muốn cứ việc mang chai đến cửa hàng muốn mua mấy lít thì rót vào, nhưng đắt đấy! Thuốc lá nội thời đó chủ yếu của làng Cẩm Lệ, còn thuốc ngoại của Pháp thì nhiều loại. Thuốc phiện được bán công khai, nhưng cửa hàng phải treo biển “RO” (revente opium), cũng như cửa hàng bán rượu phải có chữ “RA” (revente alcool). Mứt thì khá nhiều loại, nhưng phổ thông nhất là mứt gừng. Nhà nghèo làm mứt bằng đường mía đen, nhà khá giả mua đường trắng đóng thành viên…


Dịp cuối năm ai có tiền thì mua vải rồi mang ra thợ để may, vải thường do các thương nhân Ấn Độ cung cấp. Đàn ông đàn bà đều đi guốc gỗ, đàn ông đi guốc quai da, guốc đàn bà thì có thêu hoa trên quai guốc. Chỉ có các vị quan hay nhà giàu mới có “giày hạ” mà đi – đó chính là xăng-đan bằng da và đế da hay nhựa. Không ai đội mũ, người già đàn ông chít khăn đống, đàn bà chít khăn bình thường. Các bà, các cô nhà giàu đeo nữ trang: vòng cổ, hoa tai bằng vàng. Học trò cả trai lẫn gái Tết mặc áo dài, trai màu đen, gái màu trắng hoặc màu nâu sồng (nhuộm màu này rẻ!), thường đi chân không, thỉnh thoảng mới đi guốc thôi vì tốn kém! Con gái tóc dài, chải bằng dầu dừa, con trai tóc ngắn (cắt tóc gọi là “húi” hay “cúp”) hoặc cạo trọc lốc, đa số không có lược mà dùng!

Việc chiếu sáng khác với ngày nay: trong thành phố hầu như chưa có điện, còn ngoại thành thì hoàn toàn không có, do đó các nhà dùng đèn măng-xông (đốt xăng) hoặc đèn dầu hỏa. Bàn thờ thì thắp nến bạch lạp. Đèn măng-xông thường có 2 loại: 40 “bugi” và 200 “bugi”. Hồi đó chỉ cần một ngọn đèn 200 “bugi” là sáng cả một đám vườn rộng của nhà địa chủ, phải nhà sang lắm mới dám dùng. Ít ai biết biệt danh của bác Lê Duẩn thời hoạt động trước kia là “ông 200 bugi” – vì ông nắm được tất cả đường lối của Trung ương, lại biết phân tích đường đi nước bước ngọn ngành cho anh em thuộc cấp triển khai… nên tên húy này nói lên uy tín của ông cao nhất thời đó rồi!

Dịp tết chợ búa bán chạy mấy mặt hàng: vải vóc, đèn lồng, pháo. Cũng như sau này, trẻ con thích nhất lăn vào “hôi” những quả pháo xịt. Đèn lồng treo trong nhà, nhà nào giàu, có thừa đèn mới treo ra sân hay ra cổng (nhà nghèo không có cổng). Nhà nào có người học cao mới có câu đối mà treo… Tết học trò nghỉ 10 ngày, dân công sở chỉ nghỉ 3 ngày, chợ búa vẫn hoạt động không nghỉ.

Không có đua thuyền trên sông Hương, mà thường làng nào tổ chức đua thuyền riêng làng đó (giữa các xóm với nhau). Rất ít hoạt động thể thao hay vui chơi công cộng. Làng nào cũng có trồng cây đu, người trên đu, người dưới vỗ tay, cứ một trai một gái đu, đôi nào đu đẹp cũng sẽ được thưởng quà.Từng họ trồng cây nêu (bằng tre hoặc gỗ, bôi dầu hoặc mỡ cho trơn, trên đỉnh có quà) – ai trèo lên được thì lấy quà. Quà thì cũng chỉ là ổ bánh tét, cặp bánh chưng thôi, có khi là cái bu gà, sang lắm là tấm vải! Tuy vậy đó là một phong tục rất đẹp và không hề tục tĩu, sau này nhiều người đả phá nó cũng có phần hơi quá, nhất là mấy ông Tú ở Bắc Kỳ! Ở thành phố có 1 trận đá bóng cho người Việt, Tây thì chơi tenis. Dịp Tết hay có gánh xiếc Tạ Duy Hiển ghé qua lưu diễn, thường đó là sự kiện rất đình đám và được nhiều người trông ngóng. Nhà quê buổi tối có trò vui là rủ nhau đi xem “hát bội” (tuồng): “Chiêu Quân cống Hồ”, “Tiết Nhân Quý”, “Điêu Thuyền Lã Bố”… Ở Huế có rạp chiếu phim Tân Tân (cinema) chiếu phim Pháp, lúc đầu phim câm, sau này mới có phim kèm âm thanh và thêm nhiều phim Mỹ. Rạp bán 2 loại vé: ngồi trước màn ảnh và sau màn ảnh (cũng có ghế nhưng vé rẻ tiền!). Thành phố Huế hồi đó chia làm 2 khu: khu bên trái sông Hương là người Việt ở, có Thành Nội với Quốc Tử Giám, và rạp Tam Tân ở đó, còn khu bên bờ phải sông Hương là khu “Tây” gồm tây và những nhà người Việt giàu có, thì có rạp cinema Morin. Trường Quốc Học, Đồng Khánh đều nằm ở khu “Tây”.


Bởi bia thời đó còn chưa có, rượu Phông-ten của Pháp quá đắt ít ai dám xài nên chỉ có các cụ trung niên nhâm nhi với nhau mấy chén con con, chứ không có cảnh say sưa bét nhè như ngày nay. Hồi đó Huế cũng khá phổ biến “hát cô đầu” nên các ông cũng hay tranh thủ dịp Tết đi vui vẻ đôi lần, mà thời đó các bà đâu có được quyền ngăn cản hay càm ràm gì đâu, mỗi ông đã có mấy vợ lại còn tha hồ đi chơi, sướng thế là cùng! Những năm 30 bắt đầu có phong trào “nhảy đầm” – một nét văn hóa rất Tây mà hồi đó bị coi là “ăn chơi phóng túng”. Tui vậy có một nét lịch sử khác mà bản thân tôi rất bất ngờ khi được biết, cũng có thể coi là một nét “văn hóa”, đó là vào mấy ngày Tết đó dân Huế nhà nhà đánh bạc, người người đánh bạc, già trẻ lớn bé giàu nghèo gì đều đánh bạc! “Đánh bạc” ở đây nên hiểu là những trò chơi ăn tiền, thắng thua hẳn hoi, nhưng vẫn với ý thức vui chơi, không có mục đích sát phạt và ít cảnh cờ gian bạc lận. Hãy xem dân Huế chơi gì nhé! Nhà quê: giàu thì đàn ông chơi tài bàn, tổ tôm – đàn bà đánh “lú”, tứ sắc. Người nghèo hơn thì đánh “bài chòi” trong chợ, ngoài đường người lớn chơi “bầu-cua-cá-cọp”, trẻ con đánh “nhất lục” bằng con xúc xắc. Thành phố hay ở quê các nhà giàu đều có một trò chơi rất phổ biến ngày đó- đàn ông đàn bà có thể chơi chung “xam hường” (“xam” là “tam” – tiếng Hoa), được chơi bằng con xúc xắc. Thanh niên, học trò hay đánh bài : “cac-tê” hoặc “ách”. Thời đó Pháo chưa đưa vào trò xở số nên chưa có “lô”, “đề” như ngày nay, có lẽ vì thế ít cảnh nhà tan cửa nát vì bài bạc. Hồi đó mỗi nhà thường tứ đại đồng đường cùng sống, nên dịp Tết cả nhà rồi bạn bè, hàng xóm sáng tối chỉ có việc ăn và đánh bạc, các cụ trên sập, dưới trải thêm vài chiếc chiếu, trẻ con ra sân mà đánh… Các o, các mế lo nấu đồ ăn dưới bếp cho cả nhà, nhưng nấu giỏi và nhanh xong rồi cũng ngồi vào “xới”! Buổi tối cả nhà đánh bạc và chờ người ta gánh đồ đi qua để ăn khuya: tào phớ, trứng vịt lộn, xôi chè! Quả là cũng “tao nhã” và hợp với cái không khí không lạnh, nhưng mưa xuân lất phất của xứ Huế mộng mơ!

Một việc gần như bắt buộc, đó là người theo đạo Thiên Chúa đi nhà thờ, còn lại hầu như ai cũng đi chùa, đi đền miếu, nơi thờ Thần Hoàng… dâng hoa quả, oản, xôi gà… ngoài việc tâm linh còn có một mục đích rất đẹp, là nuôi sống chính những vị sư sãi đó. Đó cũng là một dịp để các bậc cao niên khảo thí khả năng đọc câu đối chữ Hán của đám học trò lít nhít…



Tết nhất tất nhiên là dịp để mọi người đi thăm nhau. Các nhà sui gia hay đi thăm hỏi, hoặc các bậc trung niên mà ngày thường hay giao du với nhau thì Tết cũng qua nhau chúc năm mới, thường là từ mồng hai mới bắt đầu đi. Câu chúc Tết cửa miệng của giới công chức thời đó là “Chúc thăng quan tiến chức!” – thẳng thắn như vậy, vì việc làm quan thời đó không hề có hàm ý xấu như bây giờ, mà hoàn toàn tự nhiên! Học trò thì rủ nhau đi chúc các Thầy trước Tết hoặc đúng ngày mồng một (kể cả đến nhà thầy tây, thường là cả lớp cùng đi, lớp trưởng đứng ra đọc một bài diễn văn soạn sẵn). Học sinh nghèo, hầu như chả bao giờ tặng thầy cô ta, thầy cô tây cái gì, chỉ có tấm lòng, tuy vậy thầy cô giáo cũng rất quý và cảm động! Đó cũng là nét đẹp mà sau này học sinh Hà Nội vẫn còn thực hiện mãi, nhưng đến bây giờ thì đã bị “mất chất” – thành ra cái cảnh phụ huynh phải đi “Tết” thầy cô hộ con, từ trước Tết rồi. Thật là “phú quý giật lùi” phải không các bạn?

(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/1686434718085125)