THE NEW ECONOMIC OF OIL

Trong mấy ngày gần đây chủ đề hot nhất trong giới dầu khí là diễn biến của giá dầu, tựu chung lại có hai luồng ý kiến: 1) đây chỉ là đòn Mỹ chơi Nga và giá dầu sẽ quay lại mức cũ muộn nhất là giữa 2015 và 2) có những biến đổi mới trong cấu trúc thị trường toàn cầu theo hướng đẩy giá dầu xuống thấp trong vòng ít nhất là 1-2 năm tới, dài hạn hơn cũng khó qua được mức 100usd/barrel.
Tôi nghiêng theo quan điểm thứ 2 và dưới đây là tổng hợp một số nhận định theo quan điểm này từ một số báo kinh tế nước ngoài.
Giá của Dầu lửa, cũng như bất kỳ hàng hoá nào khác trong nền kinh thế thị trường đều được quyết định bởi quy luật kinh tế của cung và cầu. Các yếu tố như tâm lý, dự kiến về tương lai, đầu cơ và biến động chính trị có thể tạo ra những cú sốc ảnh hưởng tức thời đến giá dầu (thông qua những đột biến trong số lượng đặt mua hay bán trên thị trường). Nhưng về trung và dài hạn (từ 1 năm trở lên) giá dầu sẽ phản ánh bản chất kinh tế thực của cung (sản lượng) và nhu cầu tiêu dùng của thế giới.
Thứ nhất về mặt cầu. Thế giới hiện cần khoảng 92 triệu thùng/ngày (một số lượng vô cùng lớn), chủ yếu dùng cho vận chuyển (car, train, vessels, airplane…etc) chiếm tới 65% tổng cầu, công nghiệp (chiếm khoảng 10%) và các lĩnh vực khác (phân bón, hoá chất, vật liệu…vv). Tổng nhu cầu về dầu lửa là tương đối ổn định, dự đoán trong vòng 10-20 năm tới vẫn giữ ở mức 100 triệu thùng/ngày (kể cả trong trường hợp 5-10 năm tới ô tô chạy pin và dân tình dùng điện năng lượng mặt trời thì các yếu tố như gia tăng dân số…cũng vẫn bù đắp lại cho khối lượng nhu cầu dầu bị thay thế).


Trong tổng số nhu cầu hơn 90 triệu thùng/ngày đó, 4-5 nước sử dụng dầu nhiều nhất bao gồm
1. Mỹ tiêu thụ 19 triệu thùng/ngày
2. Trung Quốc: 10 triệu thùng/ngày
3. Nhật: 5 triệu thùng/ngày
4. Ấn độ: 3.3 triệu/ngày
5. Nga: 3.1 triệu thùng/ngày
6. (Việt Nam: khoảng 300K thùng/ngày, đưa vào để so sánh cho biết)
Tiêu tốn dầu nhiều nhất vẫn là Mỹ và Trung Quốc: người đông, đi lại và công nghiệp nhiều, các bác USA chắc bay nhiều, quá nhiều ô tô mà toàn loại uống xăng như nước lã
Về khía cạnh cung. Tổng sản lượng dầu của cả thế giới là khoảng 89-90 triệu thùng 1 ngày, trong đó:
1. Sản xuất nhiều nhất là các bác thuộc OPEC (Iran, Iraq, Kuwait, Saudi Arabia, Lybia, Venezuela, Nigeria…etc): 29-30 triệu barrels/day (chiếm khoảng 34% tổng cung dầu toàn TG), trong đó Saudi Arabia sản xuất 10 triệu thùng/day chiếm hơn 30% tổng sản lượng của OPEC.
2. Nga sản xuất: 10 triệu barrels/day (11%)
3. Mỹ sản xuất: 9 triệu barrels/day (10%)
4. Trung Quốc: 4.3 triệu barrels/day
5. (Việt Nam mỗi ngày bơm lên được khoảng 500.000 thùng, không lớn so với các đại gia nhưng cũng thuộc tầm trung của TG).
Trong một khoảng thời gian dài từ 2011 cho đến đầu 2014 giá dầu duy trì ở mức ổn định từ 100-120 USD/thùng, dự báo của các cơ quan chuyên về dầu lửa có uy tín như OPEC, IEA (cơ quan năng lượng Mỹ) đầu năm 2014 đều đặt giá dầu ở ngưỡng trên 100 USD trong các năm 2014-2016. Thực tế giá dầu trong 6 tháng đầu năm 2014 vẫn duy trì ở mức 100-110 USD.
Một số sự kiện chính trị lớn trong năm 2014 có khả năng ảnh hưởng tới giá dầu bao gồm khủng hoảng ở Ukraina, Mỹ và Châu Âu trừng phạt Nga và cuộc chiến tại Trung Đông (Iraq, Syria).


Thông thường những biến động chính trị như vậy sẽ làm giá dầu tăng do thị trường lo ngại về nguồn cung từ những khu vực đang có biến động bị giảm sút. Nhưng lần này ngược lại giá dầu lại giảm, bắt đầu giảm từ cuối tháng 6/2014 gần trùng với thời điểm Mỹ/Châu Âu trừng phạt Nga (July/14). Do sự trùng hợp về thời gian này mà nhiều quan điểm cho rằng giá dầu giảm là đòn của Mỹ làm Nga suy sụp về kinh tế, buộc Nga phải nhượng bộ hoặc thay đổi chính trị (Putin).
Nếu thực sự giá dầu giảm đơn thuần do đòn chính trị và thao túng thị trường của Mỹ và đồng minh thì ơn trời, như vậy giá dầu thấp sẽ chỉ là ngắn hạn vài tháng đến 1 năm maximum, bởi định “chơi” Nga mà đến mấy năm Nga vẫn ok thì chơi làm gì cho tốn “đạn”.
Quan điểm đây là đòn của Mỹ đánh Nga có vẻ không thuyết phục vì mấy lý do:
1. Cả Mỹ và đồng minh Saudi Arabia gộp lại tối đa cũng chỉ kiểm soát được 20% tổng cung, chưa đủ để có thể thao túng, điều khiển giá dầu (các bác OPEC khác như Venezuela, Nigeria, Iran…vốn vẫn thù Mỹ từ lâu thì bắt tay thế nào được).
2. Hệ thống kinh tế – chính trị của Mỹ là tư bản nòi, đặc trưng bởi sự tách bạch giữa chính phủ và doanh nghiệp, giá dầu giảm ngoài Nga thì các đại gia dầu lửa lớn của Mỹ như Exxon, Conoco, Aramco…cũng hứng đòn nặng (thực ra gọi là Mỹ chứ các cty này cũng là sở hữu quốc tế, Nga, Trung, Đức, Pháp đều có vốn cổ phần trong đó hết). Không giống như bác Tập bên China muốn khiển giá nào chỉ cần nói thuộc hạ nhấc máy cho mấy anh CEO doanh nghiệp nhà nước lớn đang chi phối nền kinh tế là xong hết.
3. Chính trị Mỹ là chính trị nhiệm kỳ, cạnh tranh và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước (CP – QH – Toà án); hành xử của chính phủ nói chung là minh bạch và bị báo chí soi kỹ (đến như công an lỡ đấm mấy thằng khủng bố giết mình hôm 11/9 quá tay mà báo chí nó còn phanh phui đòi mấy ông thứ trưởng từ chức). Cách duy nhất mà chính phủ Mỹ có thể can thiệp làm giá dầu giảm là bộ năng lượng/tài chính mở kho dự trữ dầu quốc gia bán ra thị trường để tăng nguồn cung → giảm giá; chính phủ bán là thị trường rõ ngay, báo chí đưa tin ngay nhưng suốt cả năm 2014 Mỹ đâu bán dữ trữ dầu để can thiệp thị trường.
4. Có ý cho rằng do đồng đô la Mỹ tăng giá mà giá dầu thế giới tính bằng USD nên giá dầu do vậy bị giảm. Ví dụ do đô la tăng giá, đồng đô giờ giá trị gấp đôi, trước kia 1 đô ăn 1 thùng dầu giờ 1 đô đổi được 2 thùng → do vậy giá dầu h bị giảm một nửa. Lý do này cũng ko thuyết phục bởi USD có tăng thật nhưng là tăng so với euro và yên Nhật là chính (mấy nước này đâu có xuất khẩu dầu), mức tăng cũng chỉ khoảng 5-7% (dầu giảm 50% cơ mà) (ở Việt Nam USD vẫn loanh quoanh 21.500 cả năm nay, có tăng cũng chỉ 2-3%). Đồng rúp mất giá mạnh so với USD chủ yếu do tâm lý và những yếu tố kinh tế khác (kinh tế Nga cô lập và nguy cơ như vậy thì chẳng ai có tiền đi cầm rúp, đồng rúp mất giá là đương nhiên). Cho rằng chính phủ Mỹ cố ý làm đồng USD tăng giá lại càng không thuyết phục, lãi suất ở Mỹ vẫn đang đc duy trì ở mức thấp kỷ lục, hơn 1 năm nay FED mỗi tháng bơm (in thêm) cả chục tỷ USD vào nền k tế, những điều chỉnh này chỉ có thể làm cho USD yếu đi thôi.
Giá dầu giảm (mặc dù trùng thời điểm Mỹ trừng phạt Nga) thực chất là do thay đổi trong lực lượng cung và cầu dầu lửa của thế giới. Cụ thể nguồn cung đang trở nên dồi dào hơn do công nghệ khai thác đá phiến (mở màn tại Mỹ) trong khi nhu cầu vẫn ổn định thậm chí thấp đi do tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc.
Trước tiên, bước phát triển mới và có tính bước ngoặt trong công nghiệp DK của Mỹ là việc phát triển công nghệ khai thác dầu đá phiến (Shale Formations).
Dầu đá phiến đã giúp tăng sản lượng của Mỹ lên 30% giai đoạn 2013-14, so với trước hiện mỗi ngày Mỹ có thêm 3 triệu thùng, nâng tổng sản lượng tăng từ 6 triệu trước kia lên 9 triệu thùng/1 ngày. Hệ quả là Mỹ nhập khẩu dầu ít hơn (Mỹ là nước nhập net dầu, mỗi ngày từ 10-11 triệu thùng). Sản lượng từ Mỹ tăng và giảm nhập khẩu khiến ít nhất mỗi ngày thị trường thế giới ai đó phải mua thêm 3 triệu thùng, hoặc ở đâu đó phải cắt giảm sản lượng 3 triệu hoặc giá dầu phải giảm thì số dư mới có thể bán được.
Đặc điểm nổi bật của công nghệ khai thác đá phiến là thời gian nhanh, chi phí thấp – thời gian trung bình khoan 1 giếng của Shale formation là khoảng 1 tuần và chi phí khoảng 1.5 triệu/1 well (so với thời gian khoan và chi phí cho 1 giếng trung bình như tại biển Vietnam là khoảng 1-2 tháng, chi phí 20 triệu USD). Tuy nhiên trữ lượng của shale formation thường thấp, tuổi đời của mỏ chỉ khoảng 2-3 năm và sản lượng có thể giảm 60-70% sau năm đầu tiên (tuổi đời mỏ truyền thống tại Vn là khoảng 10-15 năm).
Phát triển trong công nghệ cũng góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế của việc khai thác đá phiến, nếu mấy năm trước điểm hoà vốn của một mỏ Shale formation là 70 USD/barrel thì năm 2014 điểm hoà vốn này đã giảm xuống còn 57$/barrel (Điểm hoà vốn được tính bằng cách lấy chi phí đầu tư mỏ CAPEX + chi phí điều hành mỏ OPEX trong cả dòng đời mỏ — tổng các chi phí này chia cho trữ lượng dầu của mỏ để ra giá một thùng dầu mà tại điểm đó đủ để thu hồi chi phí).
Giá dầu duy trì ở mức 100 USD với mức Break-Even Point (BE) đạt 57 USD đã làm bùng nổ lĩnh vực thai thác dầu đá phiến, chỉ trong giai đoạn 4 năm từ 2010-14 các cty Mỹ đã khoan và đưa vào khai thác 20.000 giếng, bằng tổng số giếng Ả rập xê út khai thác hàng trăm năm nay.
Trong khi nguồn cung từ Shale Formations tại Mỹ tăng lên đáng kể như vậy, nhu cầu dầu lửa của thế giới lại không tăng mà còn có xu hướng giảm do mấy yếu tố:
1. Trung Quốc và Châu Âu là hai khu vực tiêu dùng dầu lửa lớn của thế giới (đặc biệt Trung Quốc), kinh tế hiện đều phát triển chậm lại (ở TQ một phần là do điều chỉnh chính sách của CP, còn ở Châu Âu là do suy thoái). Nhu cầu nhập khẩu dầu ở hai khu vực này do vậy cũng giảm.
2. Phát triển trong công nghệ khiến phương tiện đi lại (transport chiếm 62% tổng tiêu dùng dầu lửa) tiêu hao nhiên liệu ít hơn. Chưa tính đến một phần nhỏ các loại năng lượng thay thế khác bắt đầu thay thế dầu lửa.
Trong bối cảnh nguồn cung từ Mỹ tăng, nhu cầu toàn thế giới giảm thì phương thuốc duy nhất để duy trì mức giá 100 USD là cắt giảm sản lượng của các nước khác (chủ yếu là từ các nước OPEC).
Trong khi nhiều nước (bao gồm cả nhiều thành viên OPEC) mong đợi OPEC sẽ cắt giảm sản lượng thì tại hội nghị thường niên tháng 11/14 OPEC quyết định vẫn giữ nguyên sản lượng 30 triệu thùng/ngày mặc dù tại thời điểm đó giá dầu đã giảm tới hơn 40%. Trong các tuần sau đó lãnh đạo OPEC tiếp tục tái khẳng định chính sách duy trì nguyên trạng mức sản lượng hiện tại để duy trì thị phần của OPEC, kể cả khi giá dầu rơi xuống mức 20USD/barrel.


Khả năng OPEC thực hiện chỉ đạo của Mỹ để chơi Nga là khó bởi bản thân nội bộ OPEC vốn đã gồm những thành viên “bằng mặt nhưng không bằng lòng” với nhau, ngoại trừ Arab Saudia thì các nước còn lại vốn “thù” Mỹ từ trong máu.
Thêm nữa giá dầu giảm thì OPEC là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi đa phần các nước này phụ thuộc vào dầu mỏ (Arab Saudia đến 99% GDP, ngân sách là từ dầu mỏ), lịch sử và logic thông thường thì OPEC phải cắt giảm sản lượng để giữ giá dầu.
Lần này OPEC có suy nghĩ và chiến lược kinh tế khác. Đối với OPEC mối nguy tiềm tàng và đe doạ lớn nhất là Shale Gas/Oil, nếu không ngăn chặn kịp thời thì công nghệ khai thác đá phiến này chẳng mấy chốc sẽ làm thế giới ngập chìm trong dầu, không chỉ giá sẽ giảm mà thị phần của OPEC cũng sẽ bị mất, trước mắt là mất khách hàng và thị phần tại Mỹ, sau đó là các nước khác như Trung Quốc (đáng chú ý là năm 2014 lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, chính phủ Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ đã từng được áp dụng để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, tức là từ nay dầu của Mỹ có thể được xuất khẩu sang các nước khác).
Cách duy nhất để dập tắt làn sóng shale gas/oil là chấm dứt lý do kinh tế của nó, đẩy các công ty đang hoạt động trong lĩnh vực này phải phá sản. Với mức chi phí và BE hiện đang nằm ở khoảng 57-70USD/barrel, nếu giá dầu duy trì ở mức 60 thì sớm muộn các cty khai thác shale formations sẽ phải chấm dứt hoạt động.
Giá dầu thấp OPEC thiệt hại, nhưng nếu chỉ trầy da xước tay mà có thể tiêu diệt được đối thủ thì OPEC vẫn muốn làm. Chi phí khai thác dầu tại các quốc gia OPEC nói chung thấp, Ả rập xê út chỉ tốn 5 USD để khai thác 1 barrel (mức thấp nhất thế giới) nên giá dầu xuống 50-60 dù tổn thương nhưng “room” vẫn còn quá lớn.
Vấn đề OPEC nhận thấy là dù nếu có cắt giảm sản lượng cũng khó có thể có tác dụng mong muốn. Một mặt nếu OPEC cắt giảm sản lượng để giữ giá thì OPEC thiệt trực tiếp trước, hàng loạt các nước khác như Nga, Vietnam, Malay, Indo…thậm chí cả mấy thằng “Shale” lại được hưởng lợi từ giá cao. Mà sản lượng OPEC có giảm thì mấy thằng Shale nó lấp đầy ngay, vô tình tạo thêm sức mạnh cho kẻ thù.
Trong bối cảnh các yếu tố kinh tế của cung – cầu đang có những phát triển theo hướng đẩy giá xuống thấp thì các nhân tố chính trị cũng không giúp gì cho việc hồi phục của giá dầu. Nếu muốn can thiệp vào thị trường dầu thì Châu Âu và Mỹ với nguồn lực hùng hậu (tiền bao la, đô la của nhà in được) hoàn toàn có thể làm được bằng cách mua dầu vào dự trữ để tăng cầu, hoặc điều chỉnh chính sách đối với shale industry (đánh thuế cao, giữ nguyên lệnh cấm xuất khẩu, ban hành quota/giấy phép khai thác…). Tuy nhiên Mỹ & châu Âu có những động cơ chính trị và kinh tế để không can thiệp, cụ thể:
1. Putin tỏ ra cứng đầu, “tinh tướng”, Mỹ còn đang tìm cách dạy cho một bài học thì tại sao phải cứu?
2. Mỹ và Châu Âu hiện chưa có nguồn thu và ko phụ thuộc vào xuất khẩu dầu (còn đang phải nhập net). Giá dầu thấp còn có lợi cho nền kinh tế Mỹ/Châu Âu, nếu giá dầu giảm 40 USD thì các nước nhập khẩu dầu có thêm một khoản 1.3 nghìn tỷ USD để làm việc khác. Trong bối cảnh kinh tế châu Âu đang rơi vào suy thoái thì giá dầu giảm là một tín hiệu tốt.
Tất nhiên kinh tế có quy luật tự điều chỉnh của cung cầu và giá cả. Về mặt dài hạn:
1. Giá thấp trong thời gian dài sẽ làm shale industry phá sản, đầu tư vào thăm dò khai thác nói chung trên toàn thế giới cũng sụt giảm → các yếu tố này sẽ làm nguồn cung dầu trong tương lai giảm theo.
2. Giá dầu thấp sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế tốt sẽ kéo theo nhu cầu dầu tăng.
3. Nguồn cung giảm trong khi nhu cầu tăng sẽ kéo giá dầu cao trở lại. Giá dầu nếu quay lại mức trên 100 USD sẽ thúc đẩy đầu tư, shale oil lại bùng nổ và chu kỳ kinh doanh cao – thấp, thịnh – suy sẽ tiếp tục lặp lại.
Nhưng đó là nói về dài hạn từ 2 năm trở lên (Putin nói sẽ đưa Nga thoát khỏi khủng hoảng sau 2 năm có lẽ cũng có lý do vậy), vấn đề trước mắt là giá dầu sẽ ở mức nào trong 2015-2016? Phân tích kinh tế bên trên (cung dồi dào, cầu ổn định thấp, chiến lược của OPEC kiên quyết ko giảm sản lượng) cho thấy dù có hồi phục thì 2015-16 cũng khó đạt được mức 80-90USD. Tuy nhiên ai dám nói trước điều gì?
Đối với Việt Nam chi phí cho một thùng dầu (điểm hoà vốn – BE) hiện đang ở mức trung bình 70-75 USD, giá dầu dưới 80 USD sẽ là một trở ngại lớn cho các quyết định đầu tư, thăm dò/khai thác và công ăn việc làm của toàn nghành dầu khí.
Giá dầu thô đã có nhiều biến động trong suốt gần 1 thế kỷ qua, lần gần nhất là giai đoạn 2008-09 khi giá 1 barrel đã xuống đến 40 USD để rồi sau đó lại ngóc lên mức 110. Liệu lịch sử có lặp lại hay This Time is Different?
Tham khảo thêm:
http://www.economist.com/blogs/economist-explains/2014/12/economist-explains-4
http://www.economist.com/news/leaders/21635472-economics-oil-have-changed-some-businesses-will-go-bust-market-will-be
http://www.ft.com/intl/cms/s/0/63c7786c-89bc-11e4-8daa-00144feabdc0.html#axzz3Mhd2QdtS


(Meraki)

NHỮNG CÂU NÓI HAY ĐÁNG GIÁ CỦA WARREN BUFFET

warren buffet best advices

NHỮNG CÂU NÓI HAY ĐÁNG GIÁ CỦA WARREN BUFFET

Cách đây ít hôm, nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett kỷ niệm sinh nhật lần thứ 82. Đã quá giàu có và nổi tiếng nhưng Buffett luôn mang phong thái của một con người bình dị, dễ gần.

Nhiều phát biểu của Buffett đã trở thành “kim chỉ nam” cho nhiều nhà đầu tư khắp thế giới. Đó là những triết lý sâu sắc được thể hiện qua những ngôn từ bình dân như chính con người ông.


Như một lời chúc mừng sinh nhật tới tỷ phú Buffett, trang Business Insider điểm lại một số câu nói nổi tiếng của ông, trích từ các lá thư gửi cổ đông, các cuộc phỏng vấn, bài viết trên tạp chí…

Trước hết, hai nguyên tắc quan trọng nhất đối với Buffett là: “Nguyên tắc số 1: Không bao giờ để mất tiền; nguyên tắc số 2: Không quên nguyên tắc số 1”.

Hẳn nhiều nhà đầu tư đã thuộc lòng câu nói “Hãy tham lam khi kẻ khác sợ hãi”. Câu này được trích từ lá thư gửi cổ đông của Buffett vào năm 2004. Trong lá thư này, Buffett viết: “Các nhà đầu tư nên ghi nhớ rằng, sự hưng phấn và các khoản chi phí là kẻ thù của họ. Và nếu họ cứ một mực đòi xác định thời điểm để tham gia vào thị trường chứng khoán, thì họ nên sợ hãi khi kẻ khác tham lam, và chỉ tham lam khi kẻ khác sợ hãi”.

Trước đó 4 năm, trong lá thư gửi cổ đông của năm 2000, Buffett khuyên các nhà đầu tư nên thận trọng khi việc đầu tư chuyển thành đầu cơ. Ông đã đưa ra sự so sánh tài tình giữa chuyện đầu tư và câu chuyện cổ tích về nàng Lọ Lem: “Ranh giới không bao giờ sáng sủa và rõ ràng giữa đầu tư và đầu cơ càng trở nên mờ nhạt khi các nhà tham gia thị trường gần đây hưởng chiến thắng. Chẳng có gì che mờ lẽ phải như những khoản tiền khổng lồ không phải cố gắng nhiều mà có.

Một khi đã kiếm tiền dễ như thế, những người nhạy cảm vào những lúc bình thường sẽ rơi vào cách hành xử giống như nàng Lọ Lem ở phòng khiêu vũ. Họ biết rằng, ở lại quá lâu trong đêm hội – một việc cũng giống như việc tiếp tục đầu cơ vào những công ty có mức giá cổ phiếu quá lớn so với mức lợi nhuận mà những công ty đó có thể đạt được trong tương lai – rốt cục sẽ chỉ đem đến quả bí ngô và những chú chuột. Tuy nhiên, họ vẫn không muốn bỏ lỡ một phút nào của buổi tiệc đó.

Vì thế, tất cả những người tham gia cả tin đều có kế hoạch rời bỏ buổi tiệc chỉ vài giây trước khi đồng hồ điểm 12 giờ đêm. Nhưng lại có một vấn đề ở đây, là họ đang khiêu vũ trong một căn phòng mà những chiếc đồng hồ ở đó không có kim”.

Buffett cho rằng, một công ty quan trọng hơn giá của công ty đó. “Sẽ là khôn ngoan hơn nhiều nếu mua được một công ty tuyệt vời với mức giá vừa phải, hơn là mua một công ty vừa phải với một mức giá tuyệt vời”, ông viết trong lá thư gửi cổ đông vào năm 1989.

Buffett có lần nói hài hước về những lời khuyên ở Phố Wall rằng: “Phố Wall là nơi duy nhất mà những người đi xe Rolls-Royce xin lời khuyên từ những người đi tàu điện ngầm”.

Buffett cũng phân biệt rõ giữa giá và giá trị của các mặt hàng. Lá thư gửi cổ đông năm 2008 có viết rằng: “Cách đây đã lâu, Ben Graham dạy tôi rằng: ‘Giá là số tiền mà bạn trả; giá trị là thứ mà bạn nhận được’. Cho dù chúng ta có đang nói về tất chân (socks) hay cổ phiếu (stocks), thì tôi vẫn muốn mua hàng hóa có chất lượng khi chúng giảm giá”.

Khi nói về tư chất của một nhà đầu tư giỏi, Buffett cho rằng, một nhà đầu tư giỏi không nhất thiết phải là một thiên tài. “Bạn không cần phải là một nhà khoa học tên lửa. Đầu tư không phải là một trò chơi mà một người với chỉ số IQ 160 thắng một người có chỉ số IQ 130”, ông nói trên trang MSNBC.

Lá thư gửi cổ đông vào năm 2005 của Buffett có nhắc đến nhà bác học người Anh Isaac Newton, người phát minh ra các định luật về chuyển động. “Ngài Isaac Newton đã đem đến cho chúng ta 3 định luật về chuyển động – sản phẩm của thiên tài. Nhưng tài năng thiên bẩm của ngài Isaac không nằm ở lĩnh vực đầu tư. Ngài ấy đã lỗ nặng khi đầu tư vào cổ phiếu của hãng vận tải South Sea và về sau, ngài ấy đã lý giải về thua lỗ này rằng: ‘Tôi có thể tính toán được chuyển động của các ngôi sao, nhưng không lường được sự điên rồ của con người’. Nếu không bị tổn thương bởi lần thua lỗ này, ngài Isaac rất có thể đã nghĩ ra định luật chuyển động thứ tư: Đối với các nhà đầu tư nói chung, lợi nhuận giảm khi chuyển động tăng”.

Với quan điểm rằng, những điều tồi tệ không hiện rõ ở những thời điểm tốt, Buffett nói trong lá thư gửi cổ đông năm 2001: “Xét cho cùng, chỉ đến khi thủy triều hạ thì bạn mới có thể phát hiện ra ai đi bơi mà không mặc đồ bơi”.

Khi nói về thời gian nắm giữ một tài sản, Buffett cho rằng: “Khi chúng tôi sở hữu cổ phần trong những doanh nghiệp xuất sắc với một bộ máy quản lý xuất sắc, thì thời gian mà chúng tôi muốn nắm giữ cổ phần đó là mãi mãi” – trích lá thư gửi cổ đông năm 1988.

Buffett cũng có quan điểm cho rằng, không phải cứ thay đổi là tốt, mà chính sự ít thay đổi mới là tốt. “Hướng đi của chúng tôi là tìm lợi nhuận từ sự thiếu thay đổi, thay vì từ sự thay đổi. Trường hợp kẹo cao su Wrigley chính là sự thiếu thay đổi hấp dẫn tôi. Tôi không cho là loại kẹo này sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ Internet. Đó là loại hình kinh doanh mà tôi thích”, ông nói trên tờ Business Week vào năm 1999.


Cũng trên tờ tạp chí này vào năm 1999, Buffett còn có một câu nói nổi tiếng khác về thời điểm tốt nhất để mua một công ty. Ông nói: “Điều tốt đẹp nhất đến với chúng tôi khi một công ty tuyệt vời gặp rắc rối tạm thời… Chúng tôi muốn mua những công ty như thế khi chúng ở trên bàn phẫu thuật”.

Và nhà đầu tư huyền thoại tin tưởng rằng, thị trường chứng khoán luôn vượt qua được các cuộc khủng hoảng. “Trong dài hạn, tin tức từ thị trường chứng khoán sẽ là tin tốt. Trong thế kỷ 20, nước Mỹ đã trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới, những cuộc xung đột quân sự tốn kém; Đại suy thoái, hàng tá các cuộc suy thoái và khủng hoảng tài chính; những cú sốc dầu lửa; dịch cúm; và vụ từ chức của một vị tổng thống. Nhưng chỉ số Dow vẫn tăng từ 66 điểm lên 11.497 điểm”.

Còn có một câu nói của Buffett trên tờ Forbes mà trang Business Insider cho biết là vẫn chưa hiểu nổi ý tứ: “Tôi là một nhà đầu tư giỏi hơn vì tôi là một doanh nhân, và là một doanh nhân giỏi hơn vì tôi không phải là nhà đầu tư”.


List Of The Best Business Books Of All Time

best business-books

List Of The Best Business Books Of All Time

  •  Mastering Private Equity 2 sets – Claudia Zeisberger, Michael Prahl
    The best equity teaching textbook has been found.
  • Fooled by Randomness – Nassim Nicholas Taleb
    This book is not worthy of such a high position. But this is a book that no one dares to translate so leave this place for fun.
  • Options, Futures, and other Derivatives – John Hull.

Books that teach fresh money on the stock exchange. Just having a new product coming out is known to know how to make money with it, but nowhere to study. This book is a worldwide derivative ordinance, taught at most business schools.

  • The Hard Thing about Hard Things – Ben Horowitz

    The best startup book of all time.

  •  Good to Great – Jim Collins
    This book is too good, from review.
  • The Effective Executive – Peter F. Drucker



The best management books .

  • Business Analysis and Valuation – Krishna Palepu
    The most readable business analysis textbook.
  • Sprint: How to Solve Big Problems and Test New Ideas in Just Five Days – Knapp, Zeratsky, Kowitz
    Books like titles, teach each step to do a trial run of the project in 5 days
  • The Long Tail – Chris Anderson
    Sales strategy, retail, how to build a business model.
  • Crossing the Chasm – Geoffrey A. Moore
    The biggest challenge of starting a business is selling enough to pass the initial threshold to mainstream. This book teaches a way of looking at sales over the threshold.
  • Work Rules! – Laszlo Bock
    Google-style workbooks.
  • The Art of the Start – Guy Kawasaki
    Also a startup book is very practical.
  • How Google Works – Eric Schmidt, Jonathan Rosenberg
    Former Google president shared about Google.
  • Irrational Exuberance – Robert Shiller
    The book was written to warn the economic crisis. But learn to stock up from here.
  •  One Up on Wall Street – Peter Lynch
    This is the only book about stock that read at the beginning. The other volumes, including Intelligent Investor, cannot enter the head.
  • The Essays of Warren Buffett
    Summary of management, investment, risk management views of Warren Buffett.
  •  CFA Equity Level 2
    CFA certificate has 3 levels, 6 books each. The rate of passing all 3 levels in the first test is 3%. Equity level 2 is the best book on basic investment analysis.
  • Martin S. Fridson, Financial Statement Analysis – Fernando Alvarez
    Teach how to read financial statements out of the story. It is possible to use the stock to get a job.

  • Measure What Matters – John Doerr
    Teach set targets for management.
  • Leadership is an Art – Max Depree
    Book leadership & motivation.
  • Value at Risk – Philippe Jorion
    If not working in the risk management department, it is not necessary to use these skills to teach, but this is a book that teaches how to apply statistical probability to see the world very well.
  • No B.S. Price Strategy – Dan S. Kennedy
    How to set product prices.
  • Corporate Finance – Ross Westerfield
    This is the most basic and easy to read financial book. Knowledge from here can be immediately applied to many non-financial areas.
  • The Sense of Style – Steven Pinker
    English writing book.

  • Financial Modelling – Simon Benninga
    Books to teach basic financial models.
  •  A Guide to the Body Management Project of Knowledge – Project Management Institute
  • Venture Deals – Brad Feld, Jason Menseldon
    Book about how VC works. But what is worth is the legal form in the appendix.


Antifragile Book Review – Nassim Taleb

antifragile nassim taleb

Antifragile Book Review – Nassim Taleb

The fallacy of “average” (mistake of average / average figures).

Vietnam’s GDP per capita in 2016 is about 2,200 USD (50 million / year). The average house / apartment price is from 700 million – 1.5 billion. High-end apartments are about 3 billion or more. If the average GDP is calculated, Vietnamese people have to work 30 years to buy a mid-range apartment and 68 years of work to buy a high-class apartment. Many people are surprised why the fact that the high-end apartment project still sprung up like mushrooms after the rain, the project that opened and sold out also ran out of stock, so many stars had so much money, it must be speculation / bubbles.

In fact, the average GDP data does not indicate the distribution and the difference in income. The average of the whole society is 2,200 USD, but many people earn hundreds of times that average. My personal guess: the Vietnamese population is 100 million, 70% (70 million) are in the working / working age. Of those 70 million, about 0.5% (350 thousand people) can earn up to 10 billion per year, 5% (3.5 million people) with an income of about 1 billion / year, nearly 15% (11 million). with an income of up to 500 million / year and the remaining 80% (56 million) with income of less than 50 million / year.

Thus, 11 million people can afford an average apartment (less than 1.5 billion) after 4 years of work. Nearly 4 million people are able to buy luxury apartments (over 3 billion) after 4-5 years. The number of high-class apartments in the country is about 12,000 units per year on average, so after only 7 years (from 2009 until now), there are only about 85,000 units, still very few compared to the potential. Not surprisingly, the demand for high-end apartments is still high.

Brand name firms, from Herme leather bags of 2 billion VND / unit, to Rolex watches, LV belts … can survive because of the unequal distribution of properties. Based on the average income of 2,200 USD / year, no firm exists (even in the world, not Vietnam).



Similarly, Vung Tau is the locality with the highest average income of goods in the country, but the business of goods and high-quality investment services is difficult to make money, almost restaurants and coffee shops. high-end, Japanese / American furniture stores are 1 year long and short, only 2-3 months are closed. The reason rich people contribute to high average GDP accounts for a small amount. Although they have a lot of money, they only drink 1 cup of coffee / day, eat up to 3 meals … the demand is only that, the high-end business is difficult to live.

On average, women are smart and capable of being inferior to men. But in men, the distribution of talent is uneven: on the average, the whole species is equal to women, but in some men it is excellent, but others are also ridiculous. That explains why the national leaders, companies, characters are better in men than in women in science and art, but go to jail for drug addiction, addiction, forgiveness, lazy … men also superior to women many times.

Now Nassim Nicholas Taleb has only written 3 books (Fooled by Randomness, Black Swan and Antifragile), but every book is very impressive, profound and countless new ideas. “The fallacy of average” is just a bullet point in a page of Antifragile (450 pages).

All three of Taleb’s books are difficult to read, but deserve to ponder, struggle and read over and over again.


(By Meraki)

Sách Antifragile – Nassim Taleb

antifragile nassim taleb

Sách Antifragile – Nassim Taleb

The fallacy of “average” (sai lầm của những số liệu trung bình/bình quân).

GDP bình quân đầu người của VN năm 2016 là khoảng 2.200 USD (độ 50 triệu/năm). Giá nhà đất/căn hộ tầm trung là từ 700triệu – 1.5 tỷ. Căn hộ cao cấp khoảng 3 tỷ trở lên. Nếu tính theo GDP bình quân thì người Việt phải mất 30 năm làm việc mới mua đc một căn hộ tầm trung và 68 năm làm việc thì mới mua được một căn hộ cao cấp. Nhiều người ngạc nhiên sao thực tế dự án căn hộ cao cấp vẫn mọc lên như nấm sau mưa, dự án nào mở bán cũng hết hàng, thiên hạ sao nhiều tiền thế, chắc chắn phải là đầu cơ/bong bóng.


Thực ra số liệu GDP bình quân ko nói lên sự phân bổ và khác biệt trong thu nhập. Bình quân cả xã hội 2.200 USD, nhưng nhiều người kiếm gấp trăm lần số bình quân đó. Ước đoán mò của cá nhân tôi: dân số Vn 100 triệu, 70% (70 triệu) đang trong độ tuổi lao động/đi làm. Trong số 70 triệu đó thì khoảng 0.5% (350 nghìn người) có thể có thu nhập lên tới 10 tỷ mỗi năm, 5% (3.5 triệu người) có thu nhập khoảng 1 tỷ/năm, gần 15% nữa (11 triệu) có thu nhập tới 500 triệu/năm và 80% còn lại (56 triệu) có thu nhập dưới 50 triệu/năm.

Như vậy thì có 11 triệu người có khả năng mua được căn hộ trung bình (dưới 1.5 tỷ) sau độ 4 năm làm việc. Gần 4 triệu người có khả năng mua căn hộ cao cấp (trên 3 tỷ) sau 4-5 năm. Lượng căn hộ cao cấp cả nước mỗi năm tung ra thị trường trung bình khoảng 12.000 căn, như vậy sau 7 năm (từ 2009 tới nay) mới có khoảng 85.000 căn, còn rất ít so với tiềm năng. Không ngạc nhiên khi thời gian tới nhu cầu đối với căn hộ cao cấp vẫn còn nhiều.

Các hãng kinh doanh hàng hiệu, từ cái túi da Herme 2 tỷ/chiếc, cho đến đồng hồ Rolex, thắt lưng LV…sống được là nhờ đặc tính phân bổ tài sản không đều đó. Chứ cứ dựa vào mức thu nhập bình quân 2.200 USD/năm thì chả hãng nào tồn tại được (cả trên thế giới chứ đừng nói Vietnam).

Tương tự vậy, Vũng tàu là địa phương có thu nhập bình quân vào hàng cao nhất cả nước, nhưng kinh doanh hàng hoá, dịch vụ cao cấp/đầu tư bài bản rất khó kiếm tiền, hầu như các nhà hàng, quán cà phê high-end, tiệm bán đồ Nhật/đồ Mỹ lâu là 1 năm, ngắn thì chỉ 2-3 tháng là đóng cửa. Lý do những người giàu góp phần làm cho GDP bình quân cao chiếm số lượng ít. Dù có nhiều tiền họ cũng chỉ uống 1 ly cà phê/ngày, ăn tối đa 3 bữa…nhu cầu chỉ có vậy thì kinh doanh cao cấp khó sống.


Về mặt trung bình, phụ nữ thông minh và có khả năng không thua kém đàn ông. Nhưng ở đàn ông, phân bố về tài năng là không đồng đều: về mặt trung bình cả loài thì ngang với phụ nữ, nhưng ở đàn ông một số thì rất xuất sắc, nhưng số khác thì cũng rất vớ vẩn. Điều đó lý giải tại sao lãnh đạo quốc gia, cty, nhân vật xuất chúng trong khoa học, nghệ thuật đàn ông hơn hẳn phụ nữ, nhưng vào tù ra tội, nghiện hút, bê tha, lười biếng…đàn ông cũng vượt trội hơn phụ nữ nhiều lần.

Tới giờ Nassim Nicholas Taleb mới chỉ viết có 3 cuốn (Fooled by Randomness, Black Swan và Antifragile), nhưng cuốn nào cũng rất ấn tượng, sâu sắc và vô vàn những ý tưởng mới lạ. “The fallacy of average” chỉ là một ý gạch đầu dòng trong một trang của cuốn Antifragile (450 trang).

Ba cuốn của Taleb đều khó đọc, nhưng xứng đáng để chúng ta nghiền ngẫm, vật vã và đọc đi đọc lại nhiều lần.

(Sưu tầm từ Meraki)


How To Lie With Statistics – Darrell Huff

How to lie with statistics darrell huff

How To Lie With Statistics – Darrell Huff

Regression to the mean. (Average Regression)

Reporter Tim Hardford recently reported that the American Communications Association has just awarded the Communicator of the Year 2017 to Oscar Munoz (CEO of United Airlines). The name of the uncle is engraved in the prize, and it is not clear that the “miss” happened by Munoz in handling Mr. David Dao was pulled from the plane.

The American Architects Association awards excellent awards to Kemper Arena, the award ceremony takes place at an Arena designed by the Arena; After a few hours, the roof of this program suddenly collapsed.

Life is literally black.



There was a friend who worked as a boss, just called up and praised one of the staff the previous day, the number one; He has not missed the day after he had terrible mistakes. Other children have been criticized, then later they will see it perform.

Tim Hardford argues that people often have little to say about a statistics rule that all things tend to return to moderate (regression to the mean).

For example, the average height of Vietnamese people is 1.6m; Which one is 1.9m tall is the “border” / exception. Regression to the mean means that your child will most likely return to 1.6m. Like my father-in-law 1.8m; The instrument has two children, the height is all “mean”.

“Regression to the mean” is not difficult to understand, but few people know how to apply it in practice.

In business, Vingroup in the years 2009-2014, continuous 5-7 years of continuous revenue increased by 200-300%, the previous year doubled the next year; The stock price went up, did you ask if you should buy Vin’s stock? Vin is a good group without discussion, but at the price of 100-150K (at the time of 2012), it is expected that the market will grow 200-300% every year for 5-7 years. 20-30 years into the top of the world, not only Vietnam. Tree cannot grow to the sky, any company has grown significantly over the past 5-7 years, investing on the assumption that it will continue to grow like that for another 5-7 years is a risky assumption.

I just went out of business, there was a friend who told me that when I was in the market, I was so cool, so I could follow. I told you, wait for a while, maybe you’re going back to “mean”.

(From Meraki)