TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP – 1946

TÂM TƯ CỦA NHỮNG TRÍ THỨC VIỆT TẠI PHÁP – 1946

(Dành cho người yêu lịch sử)

Sau loạt bài liên quan đến chuyến đi của cụ Hồ sang Paris năm 1946 những người yêu lịch sử như anh Lê Viết Thái, Sơn Kiều Mai đã chia sẻ thêm nhiều tư liệu quý giá của những tháng năm đó, qua đó phần nào cho ta thấy được tâm tư của những con người trí thức xa quê hương nhưng luôn hướng về cố quốc.



Ví dụ văn bản sau, là Tuyên bố của các trí thức tại Pháp được ký bởi nhiều vị đã và đang sống và học tập tại Pháp (trong ảnh là chữ ký của hai cựu sinh viên trường Cầu Đường Paris là ông Lê Viết Hường và ông Nguyễn Hy Hiền. Ông Hiền quê ở Thừa Thiên-Huế, về nước cùng nhiều tri thức khác trên chiếc tàu chuyến thứ hai là “Felix Roussel” cuối năm 1946 rồi ra nhập chiến khu Rừng Sác, ông Hường về nước cuối năm 1949 về Bangkok rồi theo đường bộ đi ra nhập chiến khu Việt Bắc).

“TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT CƯ TRÚ TẠI PHÁP

tuyên bố đoàn kết nhất trí cao với các Trí thức Việt Nam những người đã ký, vào ngày 2 tháng 4 năm 1946, tại Hà Nội, Bản đề nghị với nội dung như sau:

Các trí thức Việt Nam, cho rằng nước Cộng hòa Việt Nam là một nhà nước tự do mà lãnh thổ không thể bị xâm phạm; và rằng, về mặt địa lý, lịch sử, dân tộc, kinh tế, Nam Kỳ luôn là một phần không thể tách rời của Việt Nam.
Xét thấy rằng Nhà nước Việt Nam tự do, với tư cách là một nhà nước có chủ quyền, không thể tuân theo chủ quyền của một quốc gia khác; Nhà nước Việt Nam tự do chỉ có thể phụ thuộc vào chính ý chí tự do của bản thân.
Xét thấy rằng các sự việc đáng tiếc gây ra bởi một số yếu tố Pháp mang tính thực dân, thể hiện ý muốn thù địch đối với việc Việt Nam thực thi các quyền chủ quyền, và nhất là với việc áp dụng Thỏa thuận Đình chiến, trên phần Lãnh thổ Nam Kỳ.
Xét thấy rằng các cuộc đàm phán chính thức giữa hai Chính phủ Pháp và Việt Nam, vì lợi ích chung của các dân tộc Pháp và Việt Nam, đã không đạt được kết quả như nhà nước thực dân này hy vọng:

Vì những lý do trên:
Phản kháng mạnh mẽ, chống lại mọi nỗ lực cố tình làm suy yếu sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và nhất là chống lại sự tách rời của Nam Kỳ;
Phản đối mạnh mẽ, chống lại mọi nỗ lực cố tình tạo ra, hoặc khôi phục, các thực thể có thể gây hạn chế chủ quyền của Nhà nước Việt Nam;
Phản đối việc tiếp tục các hoạt động quân sự ở Nam Kỳ, của quân đội Pháp, nhằm chống lại quân đội Việt Nam, vi phạm Thỏa thuận đình chiến;

Phản đối bất kỳ sự chiếm đóng nào bởi các đơn vị hành chính công trên lãnh thổ Việt Nam, mà không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam; yêu cầu các cuộc đàm phán được quy định trong Công ước tháng 3 năm 1946 phải được tiến hành ngay lập tức tại Paris.

Paris, ngày 11 tháng 5 năm 1946.”
&&&&&

Hay một số báo “Cứu quốc” ngày 24/10/1946 đã có những bài rất hay về Hồ Chủ tịch và những trí thức mới về nước cùng cụ từ bên Pháp:

“LỜI TUYÊN BỐ CỦA Hồ Chủ tịch

Sau khi về dinh Chủ tịch chưa đầy 24 tiếng đồng hồ, Hồ Chủ tịch, ngoài việc tiếp các đoàn thể, các đại biểu báo giới, chính giới, đã phát biểu lời tuyên bố, một lần nữa, tỏ rõ sự săn sóc và ý nghĨ của Người đối với hết thẩy những vấn đề quan hệ đến nước Việt Nam.

Bằng một giọng gọn gàng mà đầy đủ, lời tuyên bố trước hết vạch rõ chính sách ngoại giao và nội trị của Chính phủ Việt Nam.

Về ngoại giao, nước Việt Nam đã quyết định:
– Thân thiện với các nước Mỹ, Trung Hoa, Anh v.v.

– Hợp tác thành thực với người Pháp. Nhưng sự hợp tác phải xây dựng trên căn bản tự do và bình đẳng. Câu: “Việt Nam nhất định độc lập. Trung Nam Bắc nhất định thống nhất” trong lời tuyên bố đã chứng tỏ sự tha thiết và sự quyết tâm của Chủ tịch và của dân tộc Việt Nam đối với nền thống nhất và độc lập của nước Việt Nam.

Về nội trị Chính phủ Việt Nam vẫn cố theo đuổi chính sách tập trung tất thẩy lực lượng của các tầng lớp dân chúng. Các đảng phái, các tôn giáo vào một khối đoàn kết của toàn dân, để:
– Dành, giữ tự do và độc lập
– Kiến thiết nước Việt Nam mới

Đó là những nét lớn trong chính sách của Chính phủ Việt Nam do Hồ Chủ tịch vạch ra trong lời tuyên bố.


Bên cạnh những nét lớn ấy và bao trùm ấy những nét ấy là tấm lòng của Chủ tịch. Lòng tha thiết của Chủ tịch chia sẻ và chú trọng đến cả mọi người. Về phương diện này, mỗi câu mỗi chữ là chứa nặng một cảm tình chí thiết. Những cảm tình ấy hướng về Nam, về người Việt ở miền Nam nhiều hơn hết, vì đồng bào ở miền Nam đau khổ hơn hết, hi sinh nhiều hơn hết, chiến đấu gay go hơn hết và do đó rất xứng đáng sự săn sóc của Người và của quốc dân.

Tóm lại lời tuyên bố của Hồ Chủ tịch cho ta thấy chính sách của nước Việt Nam đã rạng rỡ ra bởi cái lý trí sáng suốt và sắt đá của Người. Nhưng coi chính sách của lý trí ấy, đã được dịu đi và thắm lại bởi cảm tình dào dạt của Người.
Chính vì vậy, lời tuyên bố vừa có cái giọng nghiêm nghị, mạnh mẽ của vị Thủ lĩnh, vừa có cái giọng đầm ấm mặn mà của một người Cha.
Trí của Chủ tịch là ở đây, lòng của Chủ tịch cũng ở đây, và sức mạnh của Chủ tịch cũng ở đây…”.
&&&&&

Một bài phỏng vấn có lẽ là đầu tiên của 2 đại diện trí thức từ Pháp về:

ĐI THĂM HAI KỸ SƯ MỚI Ở PHÁP VỀ

Kiều bào ở Pháp có 50 người học về các ngành chuyên môn.
Điều cần thiết là xứ mình cần có kỹ nghệ thì có thể đào tạo được ngay nhân tài chuyên môn (Lời ông Lễ)
Tôi đã gặp hai ông Phạm Quang Lễ – kỹ sư cầu cống và Võ Đình Quỳnh – kỹ sư khoáng chất, mới ở Pháp về cùng Hồ Chủ tịch, tại phòng Nam Bộ, đường Gia Định.
Ông Lễ đã đứng tuổi, ông qua Pháp đã 11 năm. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư cầu cống, ông theo đuổi nghề trong ít lần, rồi tìm một ngành chuyên môn khác để học thêm.
Ông Quỳnh hãy còn trẻ lắm. Ông sang Pháp từ năm 1939. Hồi đó ông mới 20 tuổi. Ông tốt nghiệp kỹ sư tại 1 trường Khoáng chất lớn nhất ở Ba Lê.
Ngoài ông Quỳnh còn có ba nhà chuyên môn về mỏ, là ba ông Trần Minh, Hoàng Kinh và Bài. Hai ông Minh và Kinh đã đỗ bằng kỹ sư rồi, hiện đang làm tạp sự trong mỏ. Ông Bái còn đang học.

Cả ba ông đó đều học ở trường Xanh-tê-chiên (Saint Etienne), một trường khoáng chất lớn ngang bằng với trường Khoáng chất Ba-Lê.

Ông Quỳnh thấy ông về nước lúc này là rất hợp thời. Ông nói:
– Chúng tôi về đây cần phải thực hành ngay, và phải hoạt động thật gấp.

Thế nhưng ông đã dè dạt quá trong khi ông phát biểu ý kiến về những lợi ích mà các nhà chuyên môn mà các nhà chuyên môn ở ngoại quốc đã về hay sắp về nước có thể giúp cho Tổ quốc đang lúc hiếm người tài giỏi
– Chúng tôi, ông nói, chỉ muốn chờ cái kết quả nó sẽ nói nhiều hơn là những lời chúng tôi nói bây giờ.

Tuy nhiên, trong câu chuyện thân mật, ông Quỳnh cũng đã cho tôi biết đôi điều:
– Nếu có sự chỉnh đốn về kỹ nghệ, có thể dùng ngay được các nhà chuyên môn khoáng chất ở nước ngoài về.

Nhưng lo nhất về sự thiếu máy móc, ở nước ta có hai miền nhiều mỏ là miền Bắc và miền Trung. Phải lo làm sao cho có bao nhiêu kỹ sư khoáng chất phải được dùng hết vào việc mỏ ở hai miền đó.

Kỹ sư Phạm Quang Lễ cho tôi biết gần hết những điều tôi muốn đem ra đây làm chút quà của mấy đồng bào ta vừa mới ở Pháp mang về.
Kiều bào ta ở Pháp có tới 50 người học về các ngành chuyên môn. Hiện nay phần đông ở Ba lê, còn ở Tu lu (Toulouse) và Boóc đô (Bordeaux) rải rác có đôi người. Kỹ sư cầu cống cũng chiếm một số nhiều trong những ngành người mình theo học: điện học, hóa học, khoa học, khoáng chất, luật học, y học. Những người chuyên môn cần thiết cho nước nhà trong lúc cần phải kiến thiết thật nhiều này sở dĩ không có mấy là vì ngày trước, được đi du học, người mình có nghĩ đến cái mục đích học rồi về giúp nước đâu. Học là vì muốn có danh vọng. Học là muốn có một nghề nó nuôi sống mình. Thế thôi. Nên ai thích gì học nấy. Cái mà mình cho là có danh vọng hơn cả là nghề thuốc và luật. Các ông y khoa bác sĩ và luật khoa tiến sĩ ta có nhiều quá, nếu đem so với các ngành chuyên khoa khác. Nhiều không phải là thừa. Nhưng nếu có được một số kỹ sư hóa học, kỹ sư khoáng chất tương đương với số bác sĩ, trạng sư, thật là sự may mắn lớn cho nước nhà trong giai đoạn lịch sử này.

Ông Lễ cho tôi biết về óc thông minh của đồng bào ta theo học ở ngoại quốc:
– Mình không thua người ta về một phương diện nào. Điều cần là ở nước mình có kỹ nghệ trong xứ thế nào cũng đào tạo được nhiều về chuyên môn. Thí dụ, nước mình có trường thuốc, số người tốt nghiệp về ngành đó rất nhiều.

Rồi với 1 giọng đầy tin tưởng, kỹ sư Lễ nói đến sự hoạt động của các nhà chuyên môn ta khi nghĩ đến việc về quê hương để giúp nước.
– Chúng tôi lo nghiên cứu chương trình để về nước hợp tác với anh em kỹ sư ở đây, chúng tôi cũng đã nghĩ đến mua máy móc. Nhưng có tiền để mua cũng đã khó khăn lắm. Lại còn điều khó nữa là phải mua ở các nước khác, chứ chính nước Pháp cũng thiếu máy lắm.

“Có người chuyên môn để lo mở mang kỹ nghệ là việc gấp. Cần lắm, ta có thể mở trường đào tạo cấp tốc một số người. Thiếu máy móc cho họ học thực hành, có thể dạy cho họ lý thuyết, rồi khi có máy cho họ học qua máy cũng mau lắm.
Nói thế là đã giải quyết tạm bợ thôi. Phải lo gửi ngay người đi ngoại quốc học.

Sang Pháp các trường chuyên môn không đủ cho mình học. Phải qua Mỹ, qua Anh, qua Bỉ, qua Thụy Sĩ. Học về mỏ, tốt nhất là qua Mỹ và Thụy Sĩ. Số người gửi đi, phải cho theo chuyên môn cấp tốc về mỏ, hóa học, đúc, nấu quặng, kỹ nghệ nặng.

Trong việc gửi người đi nước ngoài, có khó là về giao thông. Còn tiền bạc, không hết nhiều lắm. Ở miền mỏ Lie-giơ (Liêge) mỗi tháng chừng một ngàn quan là theo thời giá đắt đỏ bây giờ. Qua Liê-giơ, ta có hy vọng học được nhiều. Là vì người Thụy Sĩ tốt lắm. Họ có thể hết sức dễ dàng trong việc thu nhận sinh viên của ta gửi sang, miễn là sinh viên ta phải sõi tiếng Anh và tiếng Đức. Nhờ có Anh Đức Hội, mấy giáo sư người Thụy Sĩ rất có cảm tình với ta. Và người Thụy Sĩ họ đã biết nhiều đến nước Việt Nam ta rồi, họ mến ta lắm”.

Cuối cùng, ông Lễ cho tôi biết thêm rằng ông Hoàng Minh Giám và hai ông Mai, Danh đã làm việc ráo riết để đưa một số sinh viên và nhà chuyên môn ta về nước. Có hi vọng cuối tháng này hay trong tháng tới kiều bào đó đã về tới nhà.

Rồi, cuối cùng, ông Lễ kết luận:
– Lúc về tới nước nhà, tôi có cảm tưởng rằng người mình khổ sở trên hết các dân tộc khác. Trái lại, chúng ta có thua họ về phương diện nào đâu. Tài, chúng ta có thừa. Nước ta lại rất nhiều nguyên liệu. Cho nên muốn giữ vững độc lập, chúng ta phải có kỹ nghệ. Và phải kỹ nghệ hóa nữa”.

Qua đó ta thấy được viễn kiến của ông Lễ (Trần Đại Nghĩa) về việc giáo dục các ngành nghề cấp thiết cho thanh niên Việt Nam trong gia đoạn mới. Không có gì lạ, rằng chính ông sau này là Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội.


Tham khảo thêm: http://m.cand.com.vn/…/Hai-anh-em-ruot-Vo-Dinh-Quynh—Vo…/…

(Nguồn FB Nam Nguyen https://www.facebook.com/namhhn/posts/2165751710153421)